Giảm phát thải nông nghiệp: Gắn chuyển đổi xanh với lợi ích kinh tế

Giảm phát thải khí nhà kính đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với nông nghiệp Việt Nam, vừa nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, từ hoàn thiện hạ tầng môi trường đến thay đổi phương thức canh tác vẫn còn khoảng cách đáng kể. Để chuyển đổi xanh đi vào thực chất, cần tháo gỡ rào cản về kỹ thuật, vốn và đầu ra, đồng thời bảo đảm người nông dân nhận được lợi ích tương xứng.
chuyen-doi-xanh-1792752322.webp
Nông nghiệp xanh cần thêm động lực để giảm phát thải.

Thu hẹp khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn sản xuất

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ nét đến hoạt động sản xuất, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành nông nghiệp. Với thế mạnh về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo, cà phê, trái cây cùng nhiều mặt hàng nông sản khác, Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển đổi phương thức canh tác theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm tác động đến môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế.

Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản là những thị trường ngày càng chú trọng yêu cầu về chất lượng, quy trình sản xuất và tính bền vững của nông sản. Vì vậy, phát triển nông nghiệp phát thải thấp không chỉ góp phần thực hiện các cam kết khí hậu mà còn tạo điều kiện để nông sản Việt Nam duy trì sức cạnh tranh, mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Thực tế, nhiều giải pháp kỹ thuật đã được xác định, từ tưới ướt, khô xen kẽ (AWD), quản lý dinh dưỡng tổng hợp đến canh tác hữu cơ, nông nghiệp chính xác và nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu. Việc áp dụng các phương thức này có thể giảm lượng nước tưới, phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, qua đó tiết kiệm chi phí, cải thiện sức khỏe đất, hạn chế ô nhiễm và nâng cao chất lượng nông sản.

Tuy nhiên, mức độ phổ biến của những giải pháp trên vẫn chưa tương xứng với yêu cầu chuyển đổi. Theo TS. Lê Phương Nam - Nhóm nghiên cứu mạnh Kinh tế và Quản lý tài nguyên môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, kết quả đối chiếu hai cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2016 và năm 2025 cho thấy hạ tầng môi trường ở khu vực nông thôn đã có những cải thiện đáng kể, nhưng việc ứng dụng kỹ thuật sản xuất giảm phát thải tại cấp hộ còn hạn chế.

Cụ thể, tỷ lệ xã được thu gom rác thải sinh hoạt tăng từ 63,46% năm 2016 lên 81,36% năm 2025. Tỷ lệ xã có hệ thống thoát nước thải chung tăng từ 35,75% lên 47,10%. Đến năm 2025, có 76,49% số xã bố trí điểm thu gom tập trung chai lọ, bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng.

Dù vậy, tỷ lệ hộ trồng lúa áp dụng quy trình tưới tiết kiệm nước, giảm phát thải khí nhà kính mới ước đạt 8,5%. Khoảng cách giữa hạ tầng công cộng và thực hành sản xuất cho thấy đầu tư cơ sở vật chất là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để thúc đẩy chuyển đổi xanh. Trong khi hạ tầng có thể được cải thiện thông qua nguồn lực đầu tư, quyết định thay đổi phương thức canh tác của mỗi hộ còn phụ thuộc vào chi phí ban đầu, khả năng tiếp cận kỹ thuật và hiệu quả kinh tế dự kiến.

Theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022, Việt Nam đặt mục tiêu giảm 30% phát thải mê-tan vào năm 2030 so với năm 2020. Các biện pháp như tưới ướt, khô xen kẽ, áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến và rút nước giữa vụ được xác định là những hướng đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu này.

NDC năm 2022 cũng đặt mục tiêu giảm tổng phát thải khí nhà kính 15,8% so với kịch bản phát triển thông thường bằng nguồn lực trong nước; mức giảm có thể đạt 43,5% nếu nhận được hỗ trợ quốc tế về tài chính, công nghệ và nâng cao năng lực. Trong đó, năng lượng và nông nghiệp là những lĩnh vực có đóng góp vào quá trình giảm phát thải quốc gia.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho sản xuất xanh

Để chuyển các mục tiêu thành kết quả cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”, đồng thời thành lập Ban chỉ đạo triển khai. Đến nay, 22 tỉnh, thành phố đã ban hành kế hoạch hành động thực hiện Đề án; nhiều địa phương, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế cũng tham gia xây dựng các mô hình sản xuất phát thải thấp.

nong-nghiep-xanh-1792752397.jpg
Quảng Trị triển khai mô hình lúa giảm phát thải tại 13 xã, với tổng diện tích hơn 6.000ha.

Tại Quảng Trị, mô hình lúa giảm phát thải được triển khai ở 13 xã với tổng diện tích hơn 6.000ha. Huế thực hiện mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật “3 giảm, 3 tăng”, trong khi Hưng Yên dự kiến triển khai 3.000ha lúa áp dụng phương pháp AWD, kết hợp lắp đặt thiết bị đo đếm mức giảm phát thải trong năm 2026.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung cho biết, mục tiêu lớn nhất của Đề án là xây dựng ngành trồng trọt phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính và chi phí sản xuất, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân cũng như vị thế nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thời gian tới, ngành trồng trọt sẽ tập trung hoàn thiện quy trình kỹ thuật giảm phát thải đối với những cây trồng chủ lực như lúa, ngô, cà phê và sầu riêng; triển khai các mô hình thí điểm, đồng thời xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải (MRV) đồng bộ. Với cây cà phê, các giải pháp được chú trọng gồm tiết kiệm nước tưới, tăng sử dụng phân hữu cơ, tái sử dụng phụ phẩm và phục hồi sức khỏe đất. Đối với các vùng cây ăn quả như sầu riêng, thanh long, xoài và chanh dây, việc xử lý phụ phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất xanh sẽ là những nội dung quan trọng.

Dẫu vậy, hiệu quả triển khai không chỉ phụ thuộc vào quy trình kỹ thuật. Kết quả Tổng điều tra năm 2025 cho thấy diện tích sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt, hữu cơ hoặc tương đương mới chiếm 0,96% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và thủy sản của các trang trại. Yêu cầu ghi chép nhật ký, kiểm soát chất lượng, đầu tư thiết bị và duy trì quy trình sản xuất, trong khi giá bán sản phẩm chưa ổn định, vẫn là những trở ngại đáng kể.

TS. Lê Phương Nam cho rằng, khi giá trị gia tăng từ sản phẩm xanh chưa đủ bù đắp chi phí thực hiện, động lực đổi mới của nông dân sẽ khó được duy trì. Do đó, chính sách hỗ trợ cần gắn với lợi ích kinh tế cụ thể, giúp người sản xuất vừa giảm phát thải vừa cải thiện thu nhập.

Trong quá trình này, 8.416 hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản có thể đóng vai trò kết nối, hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ các hộ nhỏ lẻ tiếp cận tiêu chuẩn xanh. Cùng với đó, việc mở rộng tín dụng xanh, thiết kế cơ chế tài chính phù hợp và cải thiện khả năng tiếp cận vốn sẽ giúp người dân có thêm nguồn lực đầu tư. Báo cáo Quốc gia về Khí hậu và Phát triển cho Việt Nam do Ngân hàng Thế giới công bố năm 2022 cũng đề xuất cho phép nông hộ quy mô nhỏ sử dụng nông sản gửi kho hoặc cây trồng làm tài sản thế chấp để vay vốn.

Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, khu vực nông thôn còn có tiềm năng phát triển năng lượng sạch. Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam được dẫn trong báo cáo Tổng điều tra năm 2025, khu vực này có 218 công trình năng lượng sạch với tổng công suất khoảng 15.000 MW, gồm 136 công trình điện mặt trời, 74 công trình điện gió và 8 công trình điện sinh khối. Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chiếm 61,47% số công trình, nhờ lợi thế về điều kiện tự nhiên và hạ tầng kết nối.

Những kết quả trên cho thấy chuyển đổi xanh ở nông thôn cần được triển khai đồng bộ từ hạ tầng, công nghệ đến tổ chức sản xuất và chính sách tài chính. Khi cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân cùng tham gia, đồng thời có cơ chế đo lường phát thải minh bạch và thị trường đầu ra ổn định, các giải pháp canh tác phát thải thấp mới có thể nhân rộng. Quan trọng hơn, giảm phát thải phải đi cùng giảm chi phí, nâng cao thu nhập và tạo thêm giá trị cho nông sản, qua đó biến mục tiêu khí hậu thành động lực phát triển bền vững cho nông nghiệp Việt Nam.

Đăng ký đặt báo