Việt Nam mở rộng diện kiểm kê, từng bước siết quản lý phát thải khí nhà kính

Từ ngày 25/9/2026, danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được mở rộng lên 2.441 cơ sở. Cùng thời điểm, khung pháp lý về giảm phát thải, phân bổ hạn ngạch và vận hành thị trường các-bon tiếp tục được hoàn thiện, từng bước hình thành hệ thống quản lý phát thải đồng bộ hơn.
siet-quan-ly-phat-thai-khi-nha-kinh-1790305090.webp
2.441 cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính, doanh nghiệp đứng trước yêu cầu mới.

Mở rộng phạm vi kiểm kê, tăng yêu cầu quản lý phát thải

Quản lý phát thải khí nhà kính đang chuyển dần từ yêu cầu thống kê, báo cáo sang một hệ thống quản lý có tính liên kết giữa kiểm kê, giảm phát thải, phân bổ hạn ngạch và giao dịch các-bon. Bước chuyển này được thể hiện rõ khi danh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê tiếp tục được cập nhật, trong khi các quy định pháp lý về thị trường các-bon cũng đang được bổ sung.

Theo Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ ngày 25/9/2026, tổng số cơ sở thuộc diện phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính đã lên tới 2.441 cơ sở, thuộc 6 lĩnh vực. Con số này cao hơn 275 cơ sở so với danh mục tại Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg và tăng 529 cơ sở so với danh mục đầu tiên được ban hành năm 2022.

Cụ thể, Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/1/2022 đưa 1.912 cơ sở vào diện phải kiểm kê. Đến năm 2024, số lượng tăng lên 2.166 cơ sở và tiếp tục lên 2.441 cơ sở trong lần cập nhật năm 2026. Việc số lượng cơ sở tăng qua từng kỳ cho thấy phạm vi quản lý phát thải đang được mở rộng trên cơ sở rà soát, cập nhật dữ liệu từ các địa phương và sự thay đổi về quy mô, cơ cấu hoạt động sản xuất.

Trong danh mục mới, Công Thương tiếp tục là lĩnh vực có số cơ sở thuộc diện kiểm kê lớn nhất với 1.916 cơ sở, chiếm gần 80% tổng số. So với 1.662 cơ sở trong danh mục năm 2022 và 1.805 cơ sở năm 2024, số lượng cơ sở của ngành này tiếp tục tăng. Đáng chú ý, trong tổng số 1.916 cơ sở thuộc ngành Công Thương, nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tới 93,5%, tương đương 1.792 cơ sở. Riêng nhóm nhựa có 327 cơ sở, cao su 322 cơ sở, dệt may 200 cơ sở, cơ khí và sản phẩm kim loại 193 cơ sở, trong khi sắt thép - luyện kim có 163 cơ sở.

Theo bà Nguyễn Thị Hà, Trưởng phòng Tư vấn Giải pháp, GREEN IN, tỷ trọng lớn của nhóm chế biến, chế tạo cho thấy đây là khu vực cần tập trung các giải pháp giảm phát thải. Việc mở rộng số cơ sở trong nhóm ngành này không chỉ nhằm tăng cường quản lý phát thải trong nước mà còn đáp ứng các yêu cầu ngày càng rõ nét từ thị trường quốc tế, nhất là các tiêu chuẩn xanh. Ở các lĩnh vực khác, số lượng cơ sở cũng có những biến động đáng chú ý. Lĩnh vực xây dựng tăng mạnh qua các kỳ cập nhật, từ 104 cơ sở lên 411 cơ sở. Trong khi đó, giao thông vận tải có xu hướng giảm số cơ sở nằm trong danh mục.

Tuy nhiên, sự sụt giảm về số lượng cơ sở trong giao thông vận tải không đồng nghĩa với việc áp lực giảm phát thải của lĩnh vực này giảm xuống. Theo bà Nguyễn Thị Hà, doanh nghiệp logistics đang chịu sức ép ngày càng lớn từ khách hàng quốc tế trong việc chuyển sang các phương tiện vận tải xanh. Với các doanh nghiệp vận hành kho lạnh, việc sử dụng điện mặt trời mái nhà hay thay thế các môi chất lạnh gây hiệu ứng khí nhà kính và tác động đến tầng ozone bằng môi chất thân thiện với môi trường cũng đang được thúc đẩy.

logistic-1790305272.jpg
Doanh nghiệp logistics đẩy mạnh chuyển đổi xanh, từ phương tiện vận tải đến kho lạnh.

Xét theo địa phương, TP.Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bắc Ninh và Hưng Yên nằm trong nhóm có số lượng cơ sở phải kiểm kê lớn. So với những lần cập nhật trước, cơ cấu địa phương cũng thay đổi đáng kể. Tây Ninh, Ninh Bình và Hà Nội là những địa phương có số cơ sở tăng nhiều, trong khi Hải Phòng, Đồng Nai và TP.Hồ Chí Minh dù vẫn có số lượng cao nhưng ghi nhận mức giảm đáng kể.

Những thay đổi này cho thấy kiểm kê khí nhà kính đang được mở rộng theo hướng bao phủ nhiều hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh có phát sinh phát thải. Đây cũng là một trong những nền tảng để Việt Nam triển khai các mục tiêu giảm phát thải, hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Kiểm kê không còn dừng ở yêu cầu báo cáo

Việc mở rộng danh mục đồng nghĩa với việc nhiều doanh nghiệp sẽ phải chuẩn bị năng lực đo lường, thu thập dữ liệu và quản lý phát thải bài bản hơn. Theo quy định, các cơ sở thuộc danh mục phải thực hiện kiểm kê, xây dựng báo cáo giảm nhẹ, lập kế hoạch giảm nhẹ phát thải, triển khai các giải pháp giảm phát thải và báo cáo kết quả thực hiện. Các cơ sở thuộc danh mục theo Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg sẽ phải nộp báo cáo kiểm kê trước ngày 31/3/2027. Báo cáo được thực hiện định kỳ 2 năm/lần và phải thể hiện kết quả của hai năm liền kề năm nộp báo cáo theo quy định tại Nghị định 119.

Đối với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch thuộc nhóm sắt thép, xi măng và nhiệt điện, thời hạn nộp báo cáo được quy định trước ngày 1/12/2027 và kỳ tiếp theo trước ngày 1/12/2029. Các cơ sở được phân bổ hạn ngạch từ năm 2027 sẽ nộp báo cáo trước ngày 1/12/2029.

Cục Biến đổi Khí hậu cho biết, đối với các cơ sở thuộc danh mục tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, yêu cầu báo cáo kiểm kê hiện áp dụng đối với Phạm vi 2, tức lượng phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện, hơi. Trong khi đó, 110 cơ sở được phân bổ hạn ngạch chỉ phải thực hiện báo cáo đối với Phạm vi 1, là lượng phát thải trực tiếp từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

san-xuat-thep-1790305378.webp
110 cơ sở được phân bổ hạn ngạch chỉ báo cáo phát thải Phạm vi 1 từ nhiên liệu hóa thạch.

Không phải tất cả cơ sở đều phải thực hiện thẩm định báo cáo. Theo quy định, yêu cầu này áp dụng đối với các cơ sở đã được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Những cơ sở chưa được phân bổ hạn ngạch chỉ cần nộp báo cáo cho UBND cấp tỉnh.

Việc không tuân thủ cũng đi kèm chế tài. Theo Nghị định 45/2022/NĐ-CP, cơ sở nộp báo cáo nhưng thông tin không đầy đủ, chính xác có thể bị phạt tối đa 20 triệu đồng; trường hợp không lập báo cáo, mức phạt tối đa lên tới 100 triệu đồng. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Hà, kiểm kê khí nhà kính không nên được nhìn nhận đơn thuần như một nghĩa vụ hành chính.

“Việc kiểm kê khí nhà kính trong doanh nghiệp không chỉ để tuân thủ, báo cáo mà còn liên quan đến việc ra quyết định vận hành, đầu tư. Đặc biệt với các doanh nghiệp bắt đầu triển khai sớm sẽ có lợi thế về khách hàng, tăng mức độ nhận diện thương hiệu và quan trọng hơn là đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn xanh của khách hàng và thị trường”, bà Nguyễn Thị Hà, Trưởng phòng Tư vấn Giải pháp, GREEN IN, cho biết.

Từ dữ liệu kiểm kê, doanh nghiệp có thể xác định những công đoạn tiêu thụ nhiều năng lượng, phát sinh lượng phát thải lớn để ưu tiên các giải pháp giảm phát thải. Khi hệ thống đo lường được thiết lập, doanh nghiệp cũng có cơ sở xây dựng mục tiêu giảm phát thải, tiến tới trung hòa carbon và sử dụng tín chỉ các-bon để bù đắp phần phát thải khó loại bỏ. Đây cũng là yếu tố ngày càng quan trọng khi hàng hóa Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng quốc tế. Việc kiểm soát phát thải, minh bạch dữ liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh có thể trở thành điều kiện để doanh nghiệp duy trì hoặc mở rộng thị trường, đặc biệt tại những thị trường có yêu cầu môi trường ngày càng cao.

Hoàn thiện cơ chế hạn ngạch và thị trường các-bon

Cùng với việc mở rộng phạm vi kiểm kê ở cấp cơ sở, Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý ở cấp quốc gia. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và dự thảo đã được chuyển tới Bộ Tư pháp để thẩm định. Một trong những trọng tâm của dự thảo là hoàn thiện cơ chế quản lý phát thải khí nhà kính theo hướng gắn kiểm kê với đo đạc, báo cáo, thẩm định, giảm phát thải và quản lý hạn ngạch. Đây được xem là bước tiếp theo trong quá trình xây dựng một hệ thống quản lý phát thải thống nhất, phục vụ cả yêu cầu trong nước và các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Dự thảo đề xuất tổ chức hoạt động giảm phát thải theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước; tăng cường kiểm kê, đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải; đồng thời xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về phát thải khí nhà kính.

Việc rà soát và cập nhật danh mục các cơ sở phải kiểm kê định kỳ cũng được đặt trong tổng thể này. Song song với đó là yêu cầu theo dõi, đánh giá việc giảm phát thải và kiểm tra mức độ tuân thủ của các cơ sở, tạo cơ sở cho việc phân bổ và giám sát hạn ngạch phát thải. Theo dự thảo, hạn ngạch phát thải khí nhà kính là lượng khí nhà kính mà cơ sở được phép phát thải trong một khoảng thời gian xác định theo phân bổ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hạn ngạch được tính theo tấn CO2 hoặc tấn CO2 tương đương.

han-ngach-phat-thai-1790305520.png
Hạn ngạch phát thải là lượng khí nhà kính cơ sở được phép phát thải trong một thời kỳ, tính theo tấn CO2 hoặc CO2 tương đương.

Với các cơ sở thuộc diện được phân bổ hạn ngạch, lượng phát thải phải nằm trong phạm vi hạn ngạch được cấp. Đồng thời, cơ sở có thể thực hiện các hoạt động như vay, mượn, nộp trả, chuyển giao, trao đổi hạn ngạch và sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ theo quy định.

Dự thảo đặt ra nguyên tắc phân bổ hạn ngạch theo hướng công bằng, minh bạch và gắn với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia. Cơ chế này tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp tính toán phương án đầu tư, đổi mới công nghệ và tổ chức sản xuất phù hợp với giới hạn phát thải được giao.

Không chỉ dừng ở cơ chế hạn ngạch, dự thảo còn đặt nền móng cho việc phát triển thị trường các-bon trong nước. Theo định hướng được đề xuất, thị trường các-bon sẽ là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Trong khi đó, sàn giao dịch các-bon trong nước sẽ đóng vai trò là hệ thống giao dịch tập trung đối với các loại tài sản này.

Khi được vận hành, các công cụ kinh tế có thể tạo thêm động lực để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả và triển khai các giải pháp giảm phát thải. Những doanh nghiệp giảm phát thải tốt có thể có thêm dư địa trong việc quản lý hạn ngạch và tham gia các giao dịch trên thị trường theo quy định.

Một điểm đáng chú ý khác là định hướng chuyển đổi số trong quản lý phát thải. Dự thảo đề xuất xây dựng hệ thống báo cáo kiểm kê khí nhà kính và báo cáo giảm phát thải ở cấp quốc gia, địa phương và cơ sở. Cùng với đó là xây dựng Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Hệ thống này sẽ bao gồm hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý quyền sở hữu hạn ngạch, tín chỉ các-bon cũng như các hoạt động vay, mượn, nộp trả, chuyển giao và bù trừ hạn ngạch.

Như vậy, từ việc mở rộng danh sách 2.441 cơ sở phải kiểm kê, Việt Nam đang từng bước hình thành chuỗi quản lý phát thải gồm đo lường, báo cáo, thẩm định, giảm phát thải, phân bổ hạn ngạch và giao dịch các-bon. Với doanh nghiệp, yêu cầu mới không chỉ đặt ra bài toán tuân thủ mà còn gắn trực tiếp với quyết định đầu tư, công nghệ, năng lượng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường.

Đăng ký đặt báo