
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Thanh Hóa trong 9 tháng năm 2026 đạt khoảng 50.006 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ, bằng 97,8% dự toán. Trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 20.591,7 tỷ đồng, thu nội địa đạt 29.414,3 tỷ đồng. Kết quả này khẳng định bước phát triển về quy mô kinh tế của tỉnh, đồng thời thể hiện vai trò quan trọng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu đối với nguồn thu ngân sách.

Ở phía Bắc, Bỉm Sơn có lợi thế về vị trí giao thông và nền tảng công nghiệp đã hình thành qua nhiều năm. Khu công nghiệp Bỉm Sơn có quy mô quy hoạch 565 ha, tỷ lệ lấp đầy được công bố ở mức 72,8%. Nằm cạnh Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc – Nam, khu vực này có điều kiện kết nối với cảng Nghi Sơn, cảng Hải Phòng và Cảng hàng không Thọ Xuân. Các ngành cơ khí, dệt may, da giày, điện tử, vật liệu xây dựng và chế biến nông lâm sản là những lĩnh vực có thể tiếp tục phát triển.
Quyết định số 1575/QĐ-UBND ngày 30/5/2026 về điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định Bỉm Sơn – Thạch Quảng là trung tâm động lực phía Bắc, gắn với công nghiệp, thương mại và dịch vụ, đồng thời là cửa ngõ kết nối Thanh Hóa với Ninh Bình và các tỉnh phía Bắc. Định hướng này đặt ra yêu cầu phát triển Bỉm Sơn thành một đầu mối sản xuất và lưu thông hàng hóa, thay vì chỉ tập trung thêm nhà máy.

Việc triển khai Cụm công nghiệp Đông Sơn II trong năm 2026 cho thấy nhu cầu mở rộng mặt bằng sản xuất tại khu vực vẫn hiện hữu. Giai đoạn 1 có diện tích 25 ha; nhà đầu tư Cofo Tire Vietnam đăng ký thuê toàn bộ diện tích để xây dựng nhà máy sản xuất lốp. Dự án có thể bổ sung năng lực sản xuất và việc làm, nhưng hiệu quả lâu dài còn phụ thuộc vào khả năng phát triển các doanh nghiệp cung ứng, dịch vụ kỹ thuật và vận tải tại địa phương.
Bỉm Sơn cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng giao thông, xử lý môi trường và dịch vụ phục vụ sản xuất. Khi doanh nghiệp có thể tìm được lao động kỹ thuật, nhà cung ứng và dịch vụ ngay trong tỉnh, lợi ích kinh tế sẽ lan rộng hơn. Đây cũng là cơ sở để tăng sức cạnh tranh của khu công nghiệp và mở rộng nguồn thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nếu Bỉm Sơn là cửa ngõ công nghiệp phía Bắc, Khu kinh tế Nghi Sơn giữ vai trò nổi bật về công nghiệp nặng, năng lượng, cảng biển và logistics. Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 2, các cơ sở xi măng cùng nhiều dự án công nghiệp khác đã tạo nên nền tảng sản xuất có quy mô lớn, góp phần định hình cơ cấu kinh tế Thanh Hóa.

Theo số liệu được công bố về hoạt động của Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, năm 2025, nhà máy đạt doanh thu ước hơn 181.000 tỷ đồng và đóng góp ngân sách khoảng 23.000 tỷ đồng. Quy mô này cho thấy ảnh hưởng đáng kể của một dự án công nghiệp lớn đối với nguồn thu địa phương. Tuy nhiên, số nộp ngân sách của riêng nhà máy cần được phân biệt với tổng thu của toàn Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp; đây là những phạm vi thống kê khác nhau.

Kết quả thu ngân sách toàn tỉnh trong năm 2026 tiếp tục cho thấy tầm quan trọng của các nguồn thu gắn với hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu. Dù vậy, phát triển Nghi Sơn không thể chỉ dựa vào một số dự án lớn. Công nghiệp lọc hóa dầu, nhiệt điện và vật liệu xây dựng cần nguồn vốn lớn, tiêu thụ nhiều năng lượng, đồng thời chịu tác động từ giá nguyên liệu và biến động thị trường quốc tế. Khi hoạt động của một dự án quy mô lớn thay đổi, ảnh hưởng có thể lan đến sản lượng công nghiệp và nguồn thu.
Vì vậy, Nghi Sơn cần mở rộng mạng lưới doanh nghiệp phục vụ các nhà máy, từ cơ khí, bảo dưỡng thiết bị, vận tải, kho bãi đến cung ứng vật tư và dịch vụ kỹ thuật. Đây là cơ hội để doanh nghiệp trong tỉnh tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, tạo thêm việc làm có kỹ năng và giữ lại nhiều giá trị hơn tại địa phương. Cùng với thu hút đầu tư, tỉnh cần chú trọng chất lượng lao động, hạ tầng kết nối và kiểm soát môi trường.

Quy hoạch tỉnh tiếp tục định hướng Nghi Sơn phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, hóa dầu, cảng biển và logistics. Để duy trì vị thế đầu tàu, các dự án mới cần được đánh giá không chỉ bằng quy mô vốn mà còn bằng khả năng vận hành, hiệu quả sử dụng đất, đóng góp ngân sách và mức độ kết nối với nền kinh tế địa phương.

Sầm Sơn tạo nguồn lực kinh tế chủ yếu từ du lịch và dịch vụ. Năm 2025, thành phố đón khoảng 8,8 triệu lượt khách, tổng thu du lịch ước đạt 17.480 tỷ đồng. Cùng năm, toàn tỉnh Thanh Hóa đón khoảng 16,28 triệu lượt khách, tổng thu du lịch đạt hơn 45.600 tỷ đồng. Những con số này cho thấy Sầm Sơn là một trong những địa bàn có vai trò lớn đối với ngành du lịch và các dịch vụ liên quan.

Tuy nhiên, lượng khách đông chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh tế. Thời gian lưu trú, mức chi tiêu và tỷ lệ doanh thu thuộc về doanh nghiệp, người lao động tại địa phương cũng là những thước đo quan trọng. Hoạt động du lịch tập trung vào mùa hè khiến nhiều cơ sở lưu trú, nhà hàng và dịch vụ giảm công suất trong những tháng còn lại, trong khi chi phí vận hành vẫn phát sinh và việc làm thời vụ khó duy trì ổn định.
Quy hoạch tỉnh định hướng Sầm Sơn – Hải Tiến phát triển thành khu du lịch biển quốc gia, đa dạng sản phẩm và thu hút đầu tư vào các cơ sở nghỉ dưỡng chất lượng cao. Để thực hiện mục tiêu này, Sầm Sơn cần có thêm sản phẩm ngoài tắm biển, ăn uống và nghỉ dưỡng ngắn ngày. Du lịch hội nghị, sự kiện, thể thao, chăm sóc sức khỏe và trải nghiệm văn hóa có thể kéo dài mùa du lịch, tạo thêm việc làm và nâng mức chi tiêu của khách.

Chất lượng dịch vụ vẫn là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh. Giá cả minh bạch, môi trường sạch, an toàn thực phẩm và thái độ phục vụ ảnh hưởng trực tiếp đến việc du khách có quay lại hay không. Nếu lượng khách tăng nhưng trải nghiệm không được cải thiện, lợi thế về quy mô sẽ khó chuyển thành thương hiệu bền vững.
Sầm Sơn cũng có thể mở rộng liên kết với các điểm đến khác trong tỉnh, từ di sản, văn hóa đến du lịch sinh thái và nông thôn. Khi khách nghỉ biển có thêm lựa chọn tham quan, doanh nghiệp vận tải, lữ hành, lưu trú và nhà cung cấp sản phẩm địa phương đều có cơ hội tăng doanh thu. Mục tiêu vì thế không dừng ở việc đón thêm khách, mà là để mỗi chuyến đi tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.

Lam Sơn – Sao Vàng được định hướng trở thành trung tâm động lực phía Tây, gắn với Cảng hàng không Thọ Xuân, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ. Đây là khu vực có khả năng kết hợp lợi thế đất đai, vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến để mở rộng không gian tăng trưởng của Thanh Hóa.

Theo định hướng quy hoạch được công bố, khu nông nghiệp công nghệ cao Lam Sơn – Sao Vàng dự kiến có quy mô 800–1.000 ha. Khu vực này cũng được định hướng phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ gắn với sân bay Thọ Xuân. Để thu hút được dự án, quy hoạch cần đi cùng mặt bằng sạch, hạ tầng điện nước, giao thông, xử lý chất thải và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
Vùng mía đường Lam Sơn cho thấy dư địa nâng giá trị của nông nghiệp. Nếu chỉ bán nguyên liệu, hiệu quả sản xuất vẫn phụ thuộc nhiều vào năng suất, chi phí đầu vào và giá thu mua. Khi vùng nguyên liệu được quản lý bằng dữ liệu, áp dụng quy trình canh tác phù hợp và kết nối ổn định với nhà máy chế biến, doanh nghiệp có thể kiểm soát chất lượng đầu vào, còn người trồng mía có cơ hội nâng năng suất và giảm chi phí.
Các mô hình giảm phát thải, ứng dụng công nghệ vệ tinh theo dõi vùng nguyên liệu và nghiên cứu thị trường carbon mở ra hướng phát triển mới. Tuy nhiên, tín chỉ carbon chỉ có thể trở thành nguồn thu khi đáp ứng được yêu cầu đo đếm, xác minh và tiêu chuẩn của thị trường. Trước mắt, hiệu quả vẫn cần được đánh giá từ năng suất, chi phí sản xuất, khả năng tận dụng phụ phẩm và thu nhập của người trồng mía.

Để Lam Sơn – Sao Vàng trở thành trụ đỡ kinh tế, nông nghiệp cần gắn chặt với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ. Doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất phải có cơ chế liên kết đủ ổn định để bảo đảm chất lượng nguyên liệu và đầu ra. Cùng với đó, hạ tầng sân bay và giao thông chỉ phát huy lợi thế khi được kết nối với nhu cầu vận chuyển thực tế, dịch vụ logistics và các trung tâm sản xuất khác trong tỉnh.
Bốn vùng có bốn thế mạnh khác nhau. Bỉm Sơn cần nâng chất lượng hệ sinh thái công nghiệp; Nghi Sơn cần mở rộng chuỗi cung ứng phía sau các dự án lớn; Sầm Sơn cần giảm tính mùa vụ và tăng giá trị trên mỗi lượt khách; Lam Sơn – Sao Vàng cần chuyển lợi thế vùng nguyên liệu thành sản phẩm chế biến có sức cạnh tranh. Các vùng chỉ có thể cùng nâng đỡ nền kinh tế tỉnh khi được kết nối bằng hạ tầng, nhân lực và mạng lưới doanh nghiệp.
Thu ngân sách là một thước đo quan trọng, nhưng không phải thước đo duy nhất của phát triển. Thanh Hóa cần duy trì những nguồn thu lớn từ công nghiệp, đồng thời mở rộng cơ sở thu từ dịch vụ, du lịch, chế biến và khu vực doanh nghiệp trong nước. Khi các trung tâm kinh tế tạo ra giá trị ổn định, tăng việc làm và nâng năng lực cạnh tranh, “Tứ Sơn” mới có thể trở thành nền tảng tăng trưởng vững chắc cho xứ Thanh.
Hà Khải