Liên kết doanh nghiệp và hợp tác xã để phát triển chuỗi tôm, gạo bền vững

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường quốc tế, doanh nghiệp tôm và lúa gạo Việt Nam không chỉ cần nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn phải chú trọng kỹ năng nghề nghiệp, an toàn lao động và trách nhiệm xã hội. Đầu tư cho người lao động đang trở thành một trong những nền tảng quan trọng để củng cố năng lực cạnh tranh và phát triển chuỗi cung ứng bền vững.
phat-trien-tom-1792764037.jpg
Chuẩn hóa điều kiện lao động, mở rộng cơ hội xuất khẩu tôm và gạo Việt Nam.

Nâng chuẩn quản trị để đáp ứng yêu cầu thị trường

Ngành tôm và lúa gạo Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, song cũng phải đối diện với những yêu cầu ngày càng toàn diện từ các nhà nhập khẩu. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn gạo, thu về 4,1 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu tôm đạt khoảng 4,6 tỷ USD. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp cần vượt qua những rào cản không chỉ liên quan đến chất lượng, giá thành hay truy xuất nguồn gốc, mà còn bao gồm điều kiện làm việc, quyền lợi người lao động và tiêu chuẩn môi trường, xã hội.

Tại hội thảo tổng kết dự án “Cải thiện khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của doanh nghiệp tôm và lúa gạo thông qua nâng cao kỹ năng làm việc, an toàn vệ sinh lao động” tổ chức tại Cần Thơ, các đại biểu cho rằng việc nâng cấp hệ thống quản trị và phát triển nguồn nhân lực cần được xem là một phần trong chiến lược hội nhập của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp và Hợp tác xã tham gia phiên thảo luận. Ảnh: Chu Khôi.
Quang cảnh hội thảo tổng kết dự án “Cải thiện khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của doanh nghiệp tôm và lúa gạo thông qua nâng cao kỹ năng làm việc, an toàn vệ sinh lao động”.

Ông Trần Ngọc Liêm, Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh TP. Hồ Chí Minh (VCCI-HCM), nhận định các thị trường có giá trị cao như EU, Mỹ và Nhật Bản ngày càng quan tâm đến trách nhiệm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, tính minh bạch và phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận, thay vì chỉ tập trung vào các tiêu chí truyền thống như chất lượng sản phẩm hay giá bán.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản và lúa gạo, đặc biệt là nhóm vừa và nhỏ, vẫn gặp khó khăn do hạn chế về tài chính và năng lực quản trị. Việc hoàn thiện quy trình sản xuất, xây dựng chính sách nhân sự và đáp ứng các bộ tiêu chuẩn quốc tế vì thế cần có lộ trình phù hợp cùng sự hỗ trợ về chuyên môn.

Bà Vũ Thị Quỳnh Hoa, Giám đốc Quốc gia Tổ chức Oxfam tại Việt Nam, nhấn mạnh: “Trong bối cảnh mới, chất lượng của môi trường làm việc và sự đầu tư cho người lao động chính là một lợi thế cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh và trách nhiệm đối với người lao động không phải là hai mục tiêu tách biệt, mà là hai yếu tố bổ trợ cho nhau”.

Theo báo cáo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, trong 10 năm, lực lượng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm 2,84 triệu người, tương đương 14,66%. Sự dịch chuyển lao động cùng áp lực tuyển dụng khiến việc cải thiện điều kiện làm việc trở thành yêu cầu cấp thiết, tác động trực tiếp đến khả năng duy trì sản xuất của doanh nghiệp.

Triển khai trong giai đoạn 2022-2026, dự án do Tổng vụ Hợp tác Phát triển Vương quốc Bỉ (DGD) tài trợ, Oxfam điều phối và VCCI-HCM phối hợp thực hiện đã hỗ trợ hơn 100 doanh nghiệp cải thiện môi trường làm việc, mang lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho hơn 23.000 người lao động, trong đó phụ nữ chiếm trên 55%. Gần 4.000 cán bộ quản lý và công nhân tham gia hơn 110 khóa đào tạo về giao tiếp, giải quyết vấn đề, thực hành 5S, Kaizen và nhận diện nguy cơ mất an toàn lao động.

Đầu tư cho người lao động tạo nền tảng phát triển bền vững

Thực tế tại các doanh nghiệp tham gia dự án cho thấy cải thiện kỹ năng và điều kiện làm việc có thể mang lại những thay đổi cụ thể trong tổ chức sản xuất. Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, cho biết doanh nghiệp có hơn 30 năm phát triển, phục vụ nhiều thị trường xuất khẩu khó tính như Nhật Bản, EU, Mỹ, Canada, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Để duy trì khả năng tiếp cận những thị trường này, Minh Phú phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội và an ninh nhà máy.

Đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu
Doanh nghiệp thủy sản tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về sản xuất bền vững, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường.

Doanh nghiệp đã áp dụng các chứng nhận trong nuôi trồng thủy sản, sản xuất bền vững, hữu cơ theo tiêu chuẩn EU, đánh giá trách nhiệm xã hội BSCI và hệ thống quản lý môi trường ISO 14001:2015. Theo ông Tâm, đây là những yêu cầu đòi hỏi nguồn lực đầu tư đáng kể nhưng cần thiết để mở rộng thị trường.

Từ năm 2022, Minh Phú bắt đầu trao đổi hợp tác với VCCI-HCM và Oxfam, sau đó ký thỏa thuận hợp tác vào năm 2024. Gần 3.000 cán bộ của tập đoàn đã tham gia các chương trình đào tạo về kỹ năng giao tiếp, nhận diện lãng phí, thực hành 5S, vận hành sản xuất và an toàn vệ sinh lao động. Doanh nghiệp cũng phối hợp triển khai các hoạt động về ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị doanh nghiệp) và được chứng nhận về ESG vào tháng 6/2026.

Ông Tâm cho biết: “Bên cạnh đào tạo, Minh Phú còn phối hợp với VCCI-HCM triển khai các hoạt động về ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị doanh nghiệp) sau khi tìm hiểu mô hình này từ khoảng năm 2022–2023. Tháng 6/2026, doanh nghiệp được chứng nhận về ESG, đánh dấu bước tiến trong nâng cao năng lực quản trị và phát triển bền vững”.

Ngày 28/6/2026, Minh Phú thành lập nhà máy Minh Phú Khánh An tại Khu công nghiệp Khánh An với quy mô gần 5.000 lao động. Theo đại diện doanh nghiệp, quá trình đào tạo đã góp phần phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật và giúp nhân sự đáp ứng yêu cầu vận hành khi nhà máy được tách khỏi hệ thống Minh Phú Cà Mau. Tại Minh Phú Cà Mau, hơn 200 lao động sau các khóa bồi dưỡng cũng được bổ nhiệm vào vị trí quản lý, điều hành tại phân xưởng sản xuất mới.

Ở khu vực hợp tác xã, ông Mã Văn Hồng, Giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông ngư Hòa Đê, cho biết dự án đã thúc đẩy những điều chỉnh thiết thực dù thời gian triển khai chưa dài. Hợp tác xã cải thiện phòng thay đồ, thực hiện tiêu chuẩn 5S tại nhà xưởng, đổi mới bao bì và nhãn mác. Điều kiện làm việc của lao động nữ được quan tâm hơn, trong đó có hai lao động nữ khuyết tật nhận hỗ trợ từ dự án.

Trong lĩnh vực lúa gạo, bà Lưu Thị Yến Hằng, Giám đốc Công ty TNHH Lúa Gạo Hồng Tân, cho biết doanh nghiệp phát triển các dòng gạo màu, gạo hữu cơ, gạo đạt chứng nhận SRP và sản phẩm chế biến từ gạo. Công ty đồng hành cùng nông dân thông qua hỗ trợ giống, vật tư, kỹ thuật canh tác và bao tiêu sản phẩm. Với sự hỗ trợ của dự án, Hồng Tân đã hoàn thiện hệ thống quản lý, đạt chứng nhận ISO 9001:2015 và ISO 22000:2018, đồng thời mong muốn tiếp tục được kết nối khách hàng và hỗ trợ xúc tiến thương mại.

Việc chăm lo phúc lợi cũng được chú trọng tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Khang An. Bà Võ Thị Hồng Diễm, Phó Chủ tịch Công đoàn công ty, cho biết doanh nghiệp đã cải thiện bữa ăn, thời gian nghỉ ngơi, cung cấp nước uống miễn phí và đề xuất bổ sung ghế massage, ghế xích đu, khu vực thư giãn, không gian thể thao. Các giải pháp này hướng tới giảm áp lực trong công việc, đặc biệt với lao động nữ làm việc trong môi trường chế biến thủy sản có độ lạnh và độ ẩm cao.

Bên cạnh đó, dự án đã hỗ trợ hơn 30 hợp tác xã tôm và lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước nâng cao tiêu chuẩn sản xuất, hoàn thiện chứng nhận an toàn thực phẩm và thử nghiệm Quỹ An sinh, Ứng phó rủi ro tại ba hợp tác xã. Những mô hình này góp phần hỗ trợ xã viên khi gặp thiên tai, dịch bệnh hoặc vấn đề sức khỏe, mở rộng cách tiếp cận an sinh từ nhà máy đến vùng nguyên liệu.

Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Khánh Long, Phó Cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Nội vụ, đánh giá cao sự chuyển biến trong nhận thức của doanh nghiệp ngành tôm và lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long về an toàn vệ sinh lao động, phúc lợi và phát triển bền vững.

Ông cho rằng cần chuyển từ cách quản lý thiên về tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp chủ động phòng ngừa rủi ro. “Nhà nước cần khuyến khích doanh nghiệp chủ động đầu tư cho an toàn, vệ sinh lao động, thay vì chỉ dừng ở việc đáp ứng các quy định”, ông Long kiến nghị. Ông cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế thanh tra, kiểm tra phù hợp với doanh nghiệp tuân thủ tốt và xem xét giảm mức đóng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động đối với đơn vị đầu tư hiệu quả cho công tác phòng ngừa.

Trước tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và robot, ông Long nhấn mạnh sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách an toàn lao động theo thực tiễn mới, tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu và huy động nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp ở địa bàn khó khăn cùng nhóm lao động yếu thế.

Trong khi đó, bà Bùi Thị Ninh, Phó Giám đốc VCCI-HCM, cho rằng việc nhân rộng các mô hình hiệu quả cần có sự phối hợp lâu dài giữa doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ, thay vì phụ thuộc vào nỗ lực riêng lẻ của những đơn vị đầu ngành. Bà bày tỏ mong muốn VCCI và Oxfam tiếp tục triển khai các chương trình nối tiếp sau khi dự án kết thúc.

Thực tiễn cho thấy đầu tư cho kỹ năng, an toàn lao động và phúc lợi không đơn thuần làm tăng chi phí vận hành mà còn góp phần ổn định nhân lực, nâng cao hiệu quả sản xuất và củng cố uy tín với đối tác. Khi trách nhiệm đối với người lao động được tích hợp vào chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp tôm và lúa gạo Việt Nam sẽ có thêm nền tảng để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, mở rộng thị trường và phát triển bền vững hơn.

Đăng ký đặt báo