
Phương tiện điện gia tăng, chính sách chuyển đổi dần đi vào thực tiễn
Sau 4 năm triển khai Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải theo Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022, Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu trong phát triển phương tiện sử dụng năng lượng sạch. Từ việc hoàn thiện hành lang pháp lý đến đầu tư hệ thống sạc điện và thúc đẩy giao thông công cộng, các giải pháp chuyển đổi xanh đang từng bước được cụ thể hóa.
Theo báo cáo tổng kết chương trình, đã có 5 luật chuyên ngành và môi trường, 9 nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị được ban hành, cùng 28 tiêu chuẩn Việt Nam liên quan đến hệ sinh thái xe điện và 2 quy chuẩn kỹ thuật trọng tâm về hạ tầng sạc. Các cơ chế về thuế, phí, lệ phí trước bạ, giá điện phục vụ sạc xe điện và thị trường carbon cũng góp phần tạo nền tảng cho việc huy động nguồn lực đầu tư.
Ở cấp địa phương, Hà Nội và TP.HCM đang thúc đẩy các giải pháp phát triển giao thông công cộng, xây dựng vùng phát thải thấp và hỗ trợ người dân chuyển đổi phương tiện. Những định hướng này không chỉ hướng đến giảm ô nhiễm không khí tại đô thị mà còn tạo điều kiện để từng bước hạn chế sự phụ thuộc vào phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Theo số liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam (Bộ Xây dựng), tính đến tháng 6/2026, cả nước có hơn 6,3 triệu phương tiện thuộc nhóm được thống kê, trong đó khoảng 400.000 phương tiện điện, chiếm khoảng 6,1%. Ô tô con chiếm 97,3% tổng số phương tiện điện, còn xe máy điện duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 28% mỗi năm. Bên cạnh đó, cả nước ghi nhận 3.893 ô tô tải điện, 47 đầu kéo điện, 2.502 ô tô khách điện, chủ yếu là xe buýt đô thị, và 8 ô tô chuyên dùng điện.
Hạ tầng phục vụ phương tiện điện cũng có sự mở rộng đáng kể. Đến thời điểm thống kê, mạng lưới đạt 15.024 trạm và cổng sạc, gồm 5.331 điểm sạc nhanh và 9.693 điểm sạc chậm, hiện diện tại 34/34 tỉnh, thành phố. Trên mạng lưới cao tốc và quốc lộ, hạ tầng sạc đã được triển khai tại 125/215 tuyến. Dù vậy, tại các trạm dừng nghỉ, tiến độ còn chậm khi đến tháng 5/2026 mới có 4/21 trạm vận hành hệ thống sạc, trong khi 8 trạm đang lắp đặt.
Trong giao thông công cộng, cả nước có 1.946 xe buýt điện trên tổng số 8.428 xe, tương đương 23,1%. Riêng Hà Nội và TP.HCM có 1.849 xe buýt điện trong tổng số 4.642 xe. Các thành phố trực thuộc Trung ương khác có 37 xe điện trên tổng số 995 xe, còn 27 tỉnh, thành phố thuộc nhóm địa phương còn lại có 60 xe điện trên tổng số 2.791 xe.
Taxi là phân khúc ghi nhận mức chuyển đổi cao hơn. Trong tổng số 86.274 taxi đang hoạt động, có 61.171 taxi điện và 25.528 taxi sử dụng xăng, dầu diesel; tỷ lệ taxi điện đạt 70,9%. Theo nhóm địa bàn, tỷ lệ này vào khoảng 74% tại các thành phố loại đặc biệt, 84,2% tại các thành phố trực thuộc Trung ương và 66,1% tại các tỉnh khác.
Theo bà Nguyễn Thị Phương Hiền, Phó giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng (Bộ Xây dựng), hệ thống văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách phục vụ chuyển đổi xanh đang từng bước được bổ sung, hoàn thiện. Các quy định về đường bộ, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường đã lồng ghép yêu cầu sử dụng năng lượng sạch, phát triển phương tiện phát thải thấp và xây dựng hạ tầng phục vụ xe điện.
Bà Nguyễn Thị Phương Hiền cho biết: “Trước mắt, việc chuyển đổi sang xe điện tập trung vào phương tiện công cộng như xe buýt, xe công nghệ, xe taxi dưới 8 chỗ. Đối với xe cá nhân, cần cung cấp hệ sinh thái đồng bộ để người dùng thuận tiện, an toàn hơn như bảo hiểm, sửa chữa, bảo dưỡng, từ đó khuyến khích người dùng tự nguyện chuyển đổi sang xe điện. Nếu trước đây giá xe điện đắt hơn xe xăng khoảng 2,5-3 lần thì hiện nay đã tương đương, tạo cơ hội tiếp cận xe điện dễ dàng hơn cho người dân”.
Tại Hà Nội, định hướng tích hợp đường sắt đô thị, vận tải hành khách công cộng và mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) đang tạo cơ sở để tổ chức lại không gian đô thị. Việc kết nối quy hoạch sử dụng đất, dân cư, việc làm và dịch vụ với các tuyến vận tải khối lượng lớn được kỳ vọng góp phần giảm nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân, đồng thời tạo điều kiện phát triển hạ tầng phục vụ phương tiện điện.
Đồng bộ nguồn điện, hạ tầng và chính sách để tạo đà chuyển đổi
Dù số lượng phương tiện điện tăng nhanh, hệ thống hạ tầng hiện nay vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển. Mạng lưới sạc và đổi pin còn phân bố chưa đồng đều, thiếu các điểm sạc công suất lớn phục vụ xe tải, xe khách, depot xe buýt, trạm dừng nghỉ, cảng và sân bay. Việc đầu tư nhiều nơi vẫn chủ yếu dựa trên nhu cầu thị trường và kế hoạch của doanh nghiệp, chưa được kết nối chặt chẽ với quy hoạch giao thông, sử dụng đất và hệ thống cung ứng năng lượng.

Một thách thức khác là sự thiếu đồng bộ giữa phát triển phương tiện điện với quy hoạch nguồn điện, lưới điện và vị trí đặt trạm sạc. Các quy định về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, tái chế pin, trạm nạp hydrogen và cấp điện bờ cần tiếp tục được hoàn thiện để bảo đảm khả năng vận hành an toàn, hiệu quả trong dài hạn.
Theo dự báo, nhu cầu điện bổ sung cho giao thông điện đến năm 2030 có thể đạt khoảng 3-4 tỷ kWh mỗi năm, tương đương 1-1,5% sản lượng điện toàn hệ thống. Vì vậy, bài toán không chỉ nằm ở khả năng đáp ứng tổng sản lượng điện mà còn ở việc cung cấp đúng địa điểm, đúng thời điểm, nhất là tại các khu vực có nhu cầu sạc công suất lớn. Các bến xe, depot, cảng cạn và trạm dừng nghỉ có thể tạo áp lực đáng kể lên lưới điện nếu nhu cầu tăng nhanh mà thiếu phương án điều phối phụ tải.
Để hạn chế nguy cơ quá tải cục bộ, phát triển hạ tầng sạc cần đi cùng các giải pháp sạc thông minh, lưu trữ điện, tích hợp năng lượng tái tạo và quản lý nhu cầu sử dụng điện. Sự phối hợp giữa doanh nghiệp vận tải, chính quyền địa phương, ngành điện và đơn vị đầu tư hạ tầng sẽ có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm hệ thống vận hành ổn định.
Bên cạnh những khó khăn về hạ tầng, cơ chế khuyến khích chuyển đổi phương tiện cũng chưa đủ đồng bộ để tạo động lực trên diện rộng. Một số chính sách mới dừng ở định hướng hoặc lồng ghép trong các văn bản chuyên ngành, trong khi các cơ chế hỗ trợ trực tiếp về tài chính, tín dụng, thuế, phí, đất đai, giá điện và dịch vụ sạc còn cần được cụ thể hóa. Đặc biệt, doanh nghiệp vận tải cần có điều kiện thuận lợi hơn để thay thế đội xe, còn người dân cần được hỗ trợ giảm chi phí ban đầu khi chuyển từ phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang phương tiện điện.
Do đó, các giải pháp ưu tiên cần bao gồm nghiên cứu giảm thuế, phí, hỗ trợ lãi suất đối với xe buýt điện và xe máy điện; bố trí quỹ đất dành cho trạm sạc tại khu đô thị, bến xe, trung tâm thương mại; sớm hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế giá điện và tín dụng xanh. Việc triển khai vùng phát thải thấp, kết hợp các công cụ quản lý nhu cầu giao thông, cũng cần được tính toán phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tiếp cận phương tiện của người dân.
Ở các lĩnh vực khác, quá trình chuyển đổi năng lượng vẫn có mức độ phát triển không đồng đều. Đường thủy nội địa đang từng bước khuyến khích phương tiện sử dụng điện và năng lượng xanh, đồng thời thí điểm cảng xanh, tuyến vận tải xanh. Trong lĩnh vực hàng hải, các công cụ EEDI, EEXI và CII đã được áp dụng. Cả nước có 11 cảng xanh được công bố, 13 cảng được đánh giá đạt tiêu chí xanh nhưng chưa công bố; khoảng 10.000 đèn báo hiệu sử dụng năng lượng mặt trời, tích hợp GPS, đã được triển khai.
Đối với hàng không, lượng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) pha trộn thực tế tăng từ 37.516 tấn năm 2024 lên 72.358 tấn năm 2025. Năm 2024, SAF được sử dụng trên chuyến bay quốc tế đầu tiên của Việt Nam trên chặng Singapore - Hà Nội. Sang năm 2025, Vietnam Airlines tiếp tục sử dụng loại nhiên liệu này trên 6 chuyến bay nội địa xuất phát từ Đà Nẵng đi Hà Nội và TP.HCM.
Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn, chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải phải được thực hiện theo cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kết cấu hạ tầng, phương tiện giao thông và nguồn năng lượng. Quá trình chuyển dịch năng lượng cần được xây dựng theo lộ trình hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và khả năng huy động nguồn lực thực tế.
Thứ trưởng cũng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, từng bước làm chủ công nghệ phương tiện sử dụng năng lượng xanh, công nghệ lưu trữ và cung cấp năng lượng. Các hướng nghiên cứu về pin nhiên liệu, hydrogen xanh, nhiên liệu sinh học, nhiên liệu tổng hợp, nhiên liệu hàng không và hàng hải bền vững cần được quan tâm nhằm đa dạng hóa giải pháp giảm phát thải.
Hiện Bộ Xây dựng đang hoàn thiện dự thảo quyết định mới về chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông vận tải. Việc cụ thể hóa lộ trình theo từng nhóm phương tiện, cự ly, tải trọng và địa bàn, đồng thời nâng cao chất lượng dữ liệu, năng lực kiểm kê phát thải và nguồn nhân lực, sẽ tạo nền tảng để chuyển đổi xanh không chỉ dừng ở sự gia tăng phương tiện điện mà tiến tới hình thành hệ thống giao thông phát thải thấp đồng bộ, hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.