
Giảm gánh nặng thuế, tạo dư địa phát triển cho hộ kinh doanh
Chính sách thuế đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục nhận được sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội, trong bối cảnh khu vực kinh tế này đóng vai trò quan trọng đối với việc làm, sản xuất và an sinh xã hội. Một trong những đề xuất đáng chú ý là nâng mức doanh thu được miễn thuế của hộ kinh doanh từ 1 tỷ đồng lên ít nhất 2 tỷ đồng mỗi năm, qua đó giảm chi phí tuân thủ và tạo điều kiện để các cơ sở kinh doanh tích lũy nguồn lực tái đầu tư.
Tại phiên thảo luận về chính sách thuế chiều 13/10, đại biểu Nguyễn Văn Thân (Đoàn ĐBQH TP.HCM), Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho rằng việc xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế cần được xem xét trong tương quan với chính sách giảm trừ gia cảnh đối với người làm công ăn lương.
Theo phân tích của đại biểu, người lao động không có người phụ thuộc có thể có mức thu nhập khoảng 15,5 triệu đồng/tháng mà chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Đối với gia đình có hai người lao động và hai người phụ thuộc, mức thu nhập được ông dẫn ra vào khoảng 43,4 triệu đồng/tháng. Từ đó, ông cho rằng chính sách thuế đối với hộ kinh doanh cũng cần tính đến đặc điểm về quy mô hoạt động, chi phí và trách nhiệm bảo đảm đời sống của người kinh doanh.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân nhấn mạnh: “Chúng tôi mới đề nghị là 2 tỷ là ít nhất. Nếu điều kiện cho phép, ngưỡng doanh thu được miễn thuế có thể nâng lên mức cao hơn".
Theo ông, nếu ngưỡng miễn thuế được nâng lên 2 tỷ đồng/năm, phần nguồn lực không phải dành cho nghĩa vụ thuế có thể được hộ kinh doanh sử dụng để mở rộng sản xuất, cải thiện thu nhập và thực hiện các nghĩa vụ an sinh. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng có thể giảm chi phí theo dõi, kê khai và thu thuế đối với những cơ sở có quy mô nhỏ.
Quan điểm này tiếp tục được đại biểu Nguyễn Văn Thân nêu tại phiên thảo luận tổ chiều 17/10 về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ông cho biết cả nước có khoảng 7 triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Với giả định mỗi hộ hoặc doanh nghiệp tạo việc làm cho khoảng 5-10 lao động, khu vực này có khả năng giải quyết việc làm cho hàng chục triệu người.
Đại biểu nhận định việc tạo điều kiện để các cơ sở kinh doanh duy trì hoạt động và phát triển ổn định không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ doanh nghiệp mà còn góp phần bảo đảm sinh kế cho người lao động. Vì vậy, chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng giảm những khoản chi phí không cần thiết, đồng thời duy trì tính công bằng giữa các nhóm người nộp thuế.
Bên cạnh thuế, khả năng tiếp cận vốn cũng là trở ngại lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đại biểu Nguyễn Văn Thân cho rằng tình trạng thiếu vốn đang trở nên nghiêm trọng khi nhu cầu đầu tư cho công nghệ, sản xuất và mở rộng kinh doanh ngày càng tăng, trong khi nguồn cung tín dụng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế. “Nhu cầu phát triển của xã hội, của công nghệ và nhu cầu của các doanh nghiệp lớn tăng cao khiến nguồn cung vốn chưa thể đáp ứng đủ nguồn cầu”, ông Thân nói.
Để tháo gỡ khó khăn, đại biểu đề nghị xem xét giảm mặt bằng lãi suất, đồng thời khai thác hiệu quả nguồn tiền gửi và ngoại tệ trong dân thông qua các giải pháp công nghệ số. Ông cũng kiến nghị khơi thông dòng vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, quỹ tài chính vi mô và thúc đẩy phát triển ngân hàng số nhằm giảm chi phí vận hành, tăng khả năng huy động vốn và cung ứng tín dụng.
“Tôi tha thiết đề nghị Quốc hội và Chính phủ cho phép thí điểm ngân hàng số, đừng lo ngại rủi ro vượt tầm kiểm soát vì rủi ro thực tế sẽ thấp khi thu hút được lượng lớn thành viên tham gia”, ông Thân nêu quan điểm.
Cùng với các giải pháp về vốn, đại biểu đề xuất dành riêng những gói thầu đầu tư công có quy mô phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoặc quy định tỷ lệ tối thiểu 20% trong các dự án đầu tư công, dịch vụ công dành cho nhóm doanh nghiệp này. Theo ông, nếu chỉ để doanh nghiệp lớn trúng thầu rồi giao lại công việc cho doanh nghiệp nhỏ, giá trị hợp đồng có thể bị cắt giảm, trong khi việc thanh toán kéo dài từ 1-2 năm khiến các đơn vị nhỏ gặp khó khăn về dòng tiền.
Đại biểu cũng kiến nghị bổ sung một chương quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong tổ chức thực hiện luật. Ông cảnh báo: "Nếu không quy định rõ trách nhiệm công vụ, cơ chế "xin - cho" vẫn sẽ tồn tại".
Ưu đãi thuế giáo dục phải đi đôi với minh bạch và hiệu quả xã hội
Ngoài các chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa, những đề xuất liên quan đến thuế trong lĩnh vực giáo dục cũng đặt ra yêu cầu cân đối giữa khuyến khích đầu tư và bảo đảm lợi ích của người học.
Đại biểu Nguyễn Văn Thân cho rằng cần xác định rõ điều kiện để các cơ sở giáo dục tư thục được hưởng ưu đãi thuế, đặc biệt đối với những đơn vị hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận. Theo ông, việc huy động vốn lớn, thu học phí cao hoặc vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi các trường phải có cơ chế công khai tài chính đủ chặt chẽ, tránh tình trạng sử dụng danh nghĩa phi lợi nhuận để hưởng ưu đãi khi bản chất hoạt động chưa được xác định rõ.
Đại biểu đồng tình với việc không đặt nặng nghĩa vụ thuế đối với trường công lập do nguồn lực hoạt động chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, với các cơ sở giáo dục ngoài công lập, chính sách cần phân định rõ điều kiện thụ hưởng, gắn ưu đãi với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục.

Đối với doanh nghiệp cung cấp suất ăn học đường, ông Nguyễn Văn Thân đề xuất cân nhắc áp dụng mức thuế khoảng 5-10%, sau đó sử dụng nguồn thu để hỗ trợ trực tiếp bữa ăn cho học sinh. Phương án này được kỳ vọng vừa bảo đảm nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, vừa tạo thêm nguồn lực cải thiện dinh dưỡng trong trường học. Dù vậy, việc triển khai cần đi kèm cơ chế phân bổ, quản lý và giám sát cụ thể để bảo đảm kinh phí được sử dụng đúng mục đích.
Trong khi đó, đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương (Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa) đề nghị cơ quan soạn thảo đánh giá kỹ tác động ngân sách của các chính sách ưu đãi. Theo số liệu trong hồ sơ dự thảo được đại biểu dẫn, các đề xuất có thể làm giảm thu thuế thu nhập doanh nghiệp khoảng 2.200 tỷ đồng mỗi năm.
Từ con số này, đại biểu cho rằng cần làm rõ phần nguồn lực ngân sách giảm thu sẽ chuyển hóa thành lợi ích thiết thực như thế nào đối với người học, thông qua giảm học phí, nâng cao chất lượng đào tạo hoặc mở rộng cơ hội học tập cho những người có hoàn cảnh khó khăn. Bởi thực tế, điều kiện hoạt động và khả năng tài chính giữa các cơ sở giáo dục có sự khác biệt đáng kể, từ trường ở địa bàn khó khăn, thu học phí thấp đến trường quốc tế và trường tư thục có nguồn thu lớn.
Nếu áp dụng ưu đãi trên diện rộng mà thiếu tiêu chí phân loại, chính sách có thể chưa tạo ra lợi ích tương xứng cho người học. Vì vậy, việc luật hóa các nguyên tắc và điều kiện hưởng ưu đãi, đồng thời ưu tiên những cơ sở giáo dục hoạt động tại địa bàn khó khăn, được xem là hướng cần nghiên cứu.

Ở góc độ an sinh xã hội, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi) kiến nghị miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với các cơ sở chuyên chăm sóc, can thiệp và giáo dục trẻ tự kỷ, trẻ khuyết tật.
Theo đại biểu, các cơ sở này đang đảm nhận một phần trách nhiệm xã hội trong khi phải chi trả chi phí cao cho nhân lực chuyên môn, hoạt động can thiệp, trang thiết bị và trị liệu. Nguồn thu của họ thường hạn chế, nên các khoản thuế phát sinh có thể làm gia tăng áp lực tài chính và gián tiếp đẩy chi phí dịch vụ lên các gia đình.
Để chính sách hỗ trợ đúng đối tượng, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa đề nghị xây dựng các tiêu chí định lượng về tài chính, xác định rõ điều kiện được hưởng ưu đãi và giới hạn phạm vi áp dụng phù hợp. Cơ chế kiểm soát cần ngăn ngừa việc chuyển lợi nhuận thành chi phí quản lý, tiền lương hoặc tiền thưởng nhằm đáp ứng điều kiện phi lợi nhuận trên hình thức.
Các kiến nghị cho thấy chính sách thuế cần được xem xét đồng bộ với mục tiêu phát triển sản xuất, tạo việc làm và bảo đảm công bằng xã hội. Việc giảm nghĩa vụ thuế, hỗ trợ tiếp cận vốn hay ưu tiên đầu tư công chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng cơ chế thực thi minh bạch, xác định đúng đối tượng và bảo đảm nguồn lực hỗ trợ thực sự mang lại lợi ích cho nền kinh tế và người dân.