
Chuyến biển bắt đầu từ bờ
Trước mỗi chuyến biển, anh Trương Đình Ánh, chủ tàu TH-90589-TS, từng phải chuẩn bị giấy tờ, mang đến trạm kiểm soát biên phòng và cảng cá để kê khai, chờ kiểm tra. Những thay đổi về thông tin thuyền viên cũng phải cập nhật theo cách làm thủ công, mất thêm thời gian trước giờ tàu rời bến.
Từ khi sử dụng ứng dụng eCDT, anh Ánh có thể khai báo thông tin trên điện thoại, đăng ký giờ cập cảng và báo cáo sản lượng đánh bắt. Ban đầu còn lúng túng, nhưng sau vài chuyến biển, anh đã quen với các thao tác. Thủ tục thuận tiện hơn cũng giúp việc bốc dỡ hải sản khi tàu về bến được thực hiện nhanh chóng.
Tại xã Hoa Lộc, ông Nguyễn Văn Hưng, chủ tàu TH-92543-TS, cũng được cán bộ biên phòng hướng dẫn sử dụng eCDT và sổ danh bạ điện tử. Với những ngư dân lớn tuổi, ít tiếp xúc với công nghệ, việc chuyển từ sổ giấy sang ứng dụng trên điện thoại không dễ ngay từ đầu. Vì vậy, cán bộ biên phòng phải đến tận bến, xuống tàu hướng dẫn cách cài đặt, kê khai và cập nhật thông tin.

Ở Trạm Kiểm soát Biên phòng Lạch Trường, cán bộ Vũ Văn Hòa cùng đồng đội trực tiếp hỗ trợ ngư dân thực hiện các thủ tục điện tử. Việc khai báo trên hệ thống giúp giảm giấy tờ, thuận tiện hơn khi kiểm tra, đối chiếu thông tin tàu cá. Với lực lượng làm nhiệm vụ tại cửa biển, dữ liệu này còn phục vụ công tác kiểm soát tàu ra vào bến và phòng, chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Nhưng eCDT chỉ là một phần trong những yêu cầu mà mỗi chuyến biển phải đáp ứng. Tàu cá phải có đủ giấy tờ theo quy định, duy trì thiết bị giám sát hành trình (VMS) đối với phương tiện thuộc diện bắt buộc, khai báo chuyến biển và tuân thủ vùng khai thác được phép. Một lần mất kết nối không được xử lý đúng quy định, hay việc khai thác sai vùng, đều có thể khiến chủ tàu phải chịu trách nhiệm.
Với hơn 102 km bờ biển, hàng nghìn tàu cá và nhiều cửa lạch, nghề biển gắn với sinh kế của đông đảo người dân Thanh Hóa. Mỗi chuyến ra khơi là khoản đầu tư về nhiên liệu, đá lạnh, lương thực và tiền công; khi tàu trở về, sản phẩm tiếp tục đi vào mạng lưới thu mua, vận chuyển, chế biến. Nếu tàu vi phạm hoặc không chứng minh được nguồn gốc hải sản, những khó khăn có thể kéo dài từ chủ tàu đến người lao động và cơ sở tiêu thụ.
Theo số liệu công bố đầu năm 2026, Thanh Hóa đã đăng ký 2.898 tàu cá từ 6 m trở lên, cập nhật dữ liệu trên hệ thống VNFishbase; 100% tàu đủ điều kiện hoạt động được đánh dấu, kẻ số và lắp đặt VMS. Tỉnh cũng báo cáo hoàn thành 19/19 nhiệm vụ được giao trong công tác chống khai thác IUU. Tuy nhiên, đăng ký và lắp thiết bị mới là bước đầu; điều quan trọng là tàu phải chấp hành quy định trong suốt quá trình hoạt động.
Siết quản lý từ cửa biển đến cảng cá
Quản lý nghề cá không thể dừng ở việc tàu đã đăng ký hay được lắp thiết bị giám sát hành trình. Từ lúc rời bến, hoạt động trên biển đến khi cập cảng, bốc dỡ và đưa hải sản vào tiêu thụ, các khâu cần được kết nối bằng dữ liệu có thể kiểm tra, đối chiếu.
Thanh Hóa đang triển khai eCDT tại các cảng cá chỉ định gồm Lạch Hới, Lạch Bạng, Hòa Lộc và Hải Châu. Đến ngày 13/10/2026, tỷ lệ tàu cá cài đặt ứng dụng đạt 97,8%; 91% tàu thực hiện thủ tục xuất, nhập cảng qua hệ thống. Toàn tỉnh ghi nhận 27.714 lượt tàu xuất, nhập cảng trên eCDT, với sản lượng thủy sản khai thác bốc dỡ đạt 14.723 tấn.

Những con số này cho thấy ngư dân đang từng bước làm quen với cách kê khai mới. Tuy vậy, cài đặt ứng dụng chưa có nghĩa mọi chuyến biển đều được khai báo đầy đủ. Thông tin về hành trình, sản lượng trong nhật ký khai thác và lượng hải sản bốc dỡ tại cảng phải được đối chiếu; nếu xuất hiện chênh lệch hoặc dấu hiệu bất thường, cơ quan chức năng cần xác minh trước khi xác nhận nguồn gốc.
Ngày 15/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương ven biển rà soát dữ liệu tàu cá với cơ sở dữ liệu quốc gia VNFishbase, cập nhật tình trạng đăng ký, giấy phép, VMS và hoạt động thực tế. Việc kiểm tra cũng phải đối chiếu sản lượng bốc dỡ với nhật ký khai thác, dữ liệu giám sát hành trình và eCDT, tránh xác nhận nguồn gốc khi hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu.
Ở khâu thực thi, mỗi lực lượng có một phần việc cụ thể: cơ quan chuyên ngành cập nhật dữ liệu; biên phòng kiểm soát tàu tại cửa biển; ban quản lý cảng ghi nhận tàu ra vào, giám sát bốc dỡ; chính quyền địa phương nắm tình trạng phương tiện, nhất là những tàu không đủ điều kiện hoạt động. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được dùng để kiểm tra và xử lý, chứ không dừng ở việc hoàn thiện báo cáo.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Thanh Hóa ghi nhận 107 tàu mất kết nối VMS được xác định, xử lý; 71 trường hợp đã được giải quyết. Có 16 tàu mất kết nối trên 6 giờ bị xử phạt tổng cộng 577,5 triệu đồng; 55 trường hợp được xác minh, khép hồ sơ không xử phạt, còn 36 trường hợp tiếp tục được xác minh tại thời điểm báo cáo.
Với tàu không đủ điều kiện khai thác, tỉnh ban hành Quyết định số 1709/QĐ-UBND ngày 1/6/2026 về quy trình quản lý, nhằm kiểm soát phương tiện và ngăn tàu tiếp tục ra khơi trái quy định. Đây là việc cần làm nghiêm túc, bởi nếu chỉ quản lý trên hồ sơ mà không kiểm soát được vị trí neo đậu và hoạt động thực tế, nguy cơ vi phạm vẫn còn.
Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU ngày 13/10/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu quyết liệt thực hiện “5 không”, quyết tâm gỡ “thẻ vàng” trong năm 2026. Yêu cầu đặt ra là kiểm soát xuyên suốt hoạt động của tàu cá, từ dữ liệu đội tàu, hành trình đến sản lượng cập cảng và xử lý vi phạm. Kết quả vì thế phải được đo bằng mức độ chấp hành thực tế, không chỉ bằng số văn bản hay cuộc kiểm tra.
Giữ nghề bằng cách khai thác có trách nhiệm
Với người đi biển, tàu cập bến là lúc tính toán tiền dầu, chi phí chuyến đi, tiền công và khoản thu từ sản lượng đánh bắt. Trong khi hiệu quả khai thác phụ thuộc vào thời tiết, ngư trường và giá bán, những yêu cầu mới về giấy phép, giám sát hành trình, khai báo điện tử cần được hướng dẫn cụ thể để ngư dân thực hiện đúng, tránh sai sót do chưa quen quy trình.

Hướng dẫn không có nghĩa là nới lỏng quy định. Cán bộ chức năng cần giúp ngư dân hoàn thiện hồ sơ, sử dụng VMS, kê khai thuyền viên và sản lượng; những trường hợp cố tình vi phạm phải được xử lý nghiêm. Việc cán bộ biên phòng đến tận tàu hướng dẫn sử dụng ứng dụng là cách giúp người dân làm quen với quy trình mới, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong từng chuyến biển.
Tỉnh cũng phải tính đến những phương tiện không còn đủ điều kiện hoạt động và lao động khó tiếp tục gắn bó với nghề. Trong năm 2026, có 41 tàu không đủ điều kiện được quản lý, đưa về khu neo đậu tập trung; 20 tàu đăng ký giải bản, với kinh phí hỗ trợ dự kiến 3,8 tỷ đồng. Khi tàu nằm bờ hoặc phải dừng khai thác, người chịu ảnh hưởng không chỉ là chủ phương tiện mà còn có thuyền viên và gia đình sống dựa vào thu nhập từ biển.
Nghị quyết số 51/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Thanh Hóa về hỗ trợ nâng cấp, thay thế thiết bị giám sát hành trình là một chính sách giúp chủ tàu đáp ứng yêu cầu quản lý. Cùng với Đề án phát triển thủy sản nhanh và bền vững gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, các chính sách này cần được triển khai sát thực tế, vừa bảo đảm kỷ cương, vừa giúp ngư dân có điều kiện tiếp tục làm nghề đúng quy định.
Gỡ “thẻ vàng” IUU là nhiệm vụ cấp thiết, nhưng công việc quản lý nghề cá không thể dừng lại khi mục tiêu ấy đạt được. Với Thanh Hóa, điều cần duy trì là tàu đủ điều kiện mới ra khơi, hành trình và sản lượng được khai báo trung thực, hải sản có nguồn gốc rõ ràng, vi phạm được xử lý nghiêm. Đó cũng là cách để người đi biển giữ được công việc của mình, để những chuyến tàu sau vẫn có thể tiếp tục rời bến.