Đánh thức nguồn lực văn hóa xứ Thanh - Bài 2: Di sản và những điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa

Đưa di sản vào đời sống kinh tế đòi hỏi nhiều hơn những hoạt động tham quan hay trình diễn đơn lẻ. Ở Thanh Hóa, từ các di tích trọng điểm đến những bản làng làm du lịch cộng đồng, bài toán đặt ra là ai tổ chức sản phẩm, nguồn lực nào duy trì hoạt động và người dân được hưởng lợi ra sao. Đây cũng là những điểm nghẽn cần tháo gỡ nếu muốn công nghiệp văn hóa trở thành một lĩnh vực tạo ra giá trị thực chất.

 

di-san-van-hoa-1-1794060755.jpg
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống tại lễ hội Lam Kinh.

Chính sách mở đường

Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đặt ra như một hướng khai thác nguồn lực văn hóa theo cách mới. Thay vì dừng ở bảo tồn, trưng bày hay tổ chức các hoạt động tham quan, văn hóa cần được kết nối với sáng tạo, sản xuất, dịch vụ và thị trường. Khi đó, di sản mới có thể tạo ra những sản phẩm mang bản sắc riêng, đồng thời mở thêm cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân.

Tại Thanh Hóa, Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 15/5/2025 của UBND tỉnh về thực hiện Chỉ thị số 30/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra định hướng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Những lĩnh vực được quan tâm gồm du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, kiến trúc, phát thanh và truyền hình. Kế hoạch cũng đề cập việc huy động doanh nghiệp, nghệ nhân và cộng đồng tham gia; từng bước hình thành sản phẩm có khả năng cạnh tranh.

di-san-van-hoa-7-1794060842.JPG
Du khách nghe thuyết minh tại Bia Vĩnh Lăng, đòi hỏi sự kết nối tour tuyến sâu hơn từ các đơn vị lữ hành

Đây là định hướng cần thiết, nhưng hiệu quả không nằm ở số lượng nhiệm vụ được đưa vào kế hoạch. Vấn đề là địa phương sẽ lựa chọn sản phẩm nào, tổ chức sản xuất và phân phối ra sao, ai đứng ra đầu tư, ai chịu trách nhiệm duy trì hoạt động và người dân được hưởng lợi đến đâu.

Bà Vương Thị Hải Yến, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, cho biết ngành đang rà soát, lựa chọn những sản phẩm có lợi thế như du lịch di sản tâm linh, du lịch sinh thái cộng đồng và nghệ thuật biểu diễn dân gian. Theo bà, tỉnh hướng đến sự kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nghệ nhân và cộng đồng; đồng thời nghiên cứu cơ chế hỗ trợ về vốn, mặt bằng và xúc tiến thương mại để thu hút nhà đầu tư.

Điểm đáng chú ý trong định hướng này là cách nhìn về hiệu quả. Theo bà Yến, phát triển công nghiệp văn hóa không nên chỉ tính bằng lượt khách hay doanh thu, mà còn phải xem xét số việc làm được tạo ra và mức độ cải thiện sinh kế cho người dân ở các vùng di sản.

di-san-van-hoa-6-1794060940.JPG
Khu di tích Lam Kinh cần thêm các dịch vụ phụ trợ để giữ chân du khách lưu trú lâu hơn. ↵

Tuy vậy, để những mục tiêu ấy đi vào thực tế, cần có sản phẩm cụ thể và mô hình vận hành đủ sức đứng vững. Một lễ hội được tổ chức theo mùa, một chương trình biểu diễn phục vụ khách tham quan hay một sản phẩm thủ công được giới thiệu tại điểm du lịch chưa thể tự tạo thành ngành kinh tế. Chúng cần có lịch hoạt động ổn định, thị trường tiêu thụ, nhân lực và nguồn thu để duy trì.

Di sản thiếu dịch vụ

Với hệ thống di tích có quy mô và giá trị lịch sử lớn, Thanh Hóa có lợi thế để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa. Thành Nhà Hồ, Lam Kinh và đền Bà Triệu là những điểm đến tiêu biểu, mỗi nơi mang một lớp trầm tích lịch sử và không gian văn hóa riêng. Nhưng để du khách dành nhiều thời gian hơn, chi tiêu nhiều hơn, các điểm di tích cần được kết nối với dịch vụ và trải nghiệm phù hợp.

di-san-van-hoa-2-1794061010.jpg
Người dân bản Bút (xã Nam Xuân) chủ động đón khách và giao lưu văn hóa tại điểm du lịch cộng đồng.

Ông Nguyễn Văn Long, Phó Giám đốc Ban Quản lý Di sản Thành Nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa, cho rằng nếu du khách chỉ đến tham quan rồi rời đi, tiềm năng kinh tế của di sản chưa được khai thác đầy đủ. Thời gian qua, Ban Quản lý đã tổ chức các hoạt động tương tác, biểu diễn nghệ thuật truyền thống và phục dựng không gian văn hóa Tây Đô nhằm làm phong phú trải nghiệm tại khu di sản.

Tuy nhiên, theo ông Long, khó khăn hiện nay là hạ tầng dịch vụ phụ trợ còn mỏng, kinh phí dành cho các chương trình biểu diễn thường xuyên còn hạn chế. Muốn giữ chân khách lâu hơn, tăng mức chi tiêu, các đơn vị quản lý không thể chỉ dựa vào ngân sách bảo tồn mà cần cơ chế hợp tác với doanh nghiệp lữ hành để cùng xây dựng sản phẩm.

Những vướng mắc này không riêng một điểm di tích. Bảo tồn một công trình lịch sử là nhiệm vụ lâu dài, nhưng tổ chức hoạt động phục vụ khách lại đòi hỏi nguồn lực và cách vận hành khác. Cơ quan quản lý có thể gìn giữ không gian, tư liệu, hiện vật và tổ chức một số hoạt động chuyên môn; còn để hình thành tour trải nghiệm, dịch vụ ăn uống, lưu trú, sản phẩm lưu niệm hay chương trình biểu diễn định kỳ, cần sự tham gia của doanh nghiệp và các chủ thể cung ứng dịch vụ.

di-san-van-hoa-3-1794061061.jpg
Phụ nữ Thái ở bản Bút tái hiện nét văn hóa sinh hoạt truyền thống phục vụ du khách.

Nếu thiếu sự kết nối ấy, di tích dễ dừng ở vai trò điểm tham quan đơn lẻ. Du khách đến, tìm hiểu một phần lịch sử rồi tiếp tục hành trình; cơ hội để kéo dài thời gian lưu trú, mở rộng chi tiêu và tạo thêm việc làm tại chỗ vì thế cũng bị hạn chế.

Bài toán đặt ra không phải đưa thật nhiều dịch vụ vào khu di tích. Mỗi sản phẩm cần phù hợp với tính chất không gian, giá trị lịch sử và yêu cầu bảo tồn. Hoạt động kinh doanh không thể làm biến dạng di sản, nhưng bảo tồn cũng cần được tổ chức theo cách giúp công chúng tiếp cận và hiểu sâu hơn. Sự tham gia của doanh nghiệp phải nằm trong khuôn khổ đó, với trách nhiệm rõ ràng giữa đơn vị quản lý, nhà đầu tư và cộng đồng địa phương.

Văn hóa nuôi sinh kế

Ở bản Bút, xã Nam Xuân, hướng khai thác văn hóa được hình thành từ chính nhu cầu của du khách và sự chủ động của người dân. Khi làm homestay, bà Phạm Thị Tuyết ban đầu chỉ nghĩ đến việc cung cấp chỗ nghỉ và bữa ăn. Nhưng khách đến bản còn muốn nghe tiếng trống, tiếng khèn, xem múa xòe và tìm hiểu đời sống của người Thái.

Từ nhu cầu ấy, bà Tuyết vận động phụ nữ trong bản tìm lại trang phục truyền thống, cùng tập luyện những điệu múa từng có thời gian ít được thực hành. Các hoạt động văn hóa dần trở thành một phần trong trải nghiệm dành cho khách lưu trú.

di-san-van-hoa-5-1794061101.jpg
Cảnh quan thiên nhiên kết hợp du lịch cộng đồng – một hướng khai thác nguồn lực văn hóa mới.

Bà Tuyết chia sẻ: “Du khách lên đây không chỉ để ngủ một đêm rồi về, họ thèm được nghe tiếng trống, tiếng khèn, được hòa vào điệu múa xòe và tìm hiểu nếp sống của người Thái”. Theo bà, khi khách tham gia và quan tâm đến văn hóa bản địa, những người phụ nữ có thêm thu nhập từ biểu diễn, bán thực phẩm; các giá trị truyền thống cũng được nhìn nhận tích cực hơn trong đời sống cộng đồng.

Hiệu quả mang lại không dừng ở khoản thu từ dịch vụ. Trước đây, một bộ phận người trẻ ít quan tâm đến tiếng nói, trang phục hay các điệu múa truyền thống. Nhìn thấy du khách thích thú với văn hóa của bản, nhiều bạn trẻ bắt đầu tìm đến các bà, các mẹ để học múa, đánh khèn, thêu thùa.

di-san-van-hoa-8-1794061142.JPG
Giới thiệu sản phẩm thủ công truyền thống, từng bước kết nối văn hóa với thị trường tiêu thụ.

Cách làm ở bản Bút cho thấy người dân có thể trở thành chủ thể tạo ra sản phẩm văn hóa, thay vì chỉ đứng ngoài hoạt động du lịch. Họ vừa tham gia đón khách, cung cấp dịch vụ, vừa trực tiếp thực hành và truyền lại những giá trị của cộng đồng mình. Khi văn hóa gắn với lợi ích thiết thực, động lực gìn giữ cũng có thêm cơ sở.

Thực tiễn từ cả di sản lẫn điểm du lịch cộng đồng đều chỉ ra một yêu cầu cốt lõi: muốn văn hóa tạo ra giá trị kinh tế, phải có sản phẩm bài bản và thị trường tiếp nhận. Với di sản quy mô lớn, chìa khóa nằm ở sự hợp tác giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp để hình thành dịch vụ phù hợp. Với bản làng, yếu tố quyết định là năng lực của người dân trong việc đưa văn hóa vào phục vụ du khách mà vẫn giữ vững bản sắc và quyền chủ động.

di-san-van-hoa-9-1794061142.JPG
Người dân và du khách tại phiên chợ vùng cao thuộc Lễ hội Lam Kinh – nơi cộng đồng thực hành văn hóa gắn liền với cải thiện sinh kế.

Kế hoạch phát triển công nghiệp văn hóa đã mở ra định hướng. Phần việc còn lại là cụ thể hóa bằng những sản phẩm có thị trường, có nguồn thu và có sức sống tự thân. Khi nghệ nhân sống được với nghề, người dân có sinh kế, doanh nghiệp thấy cơ hội đầu tư và di sản được bảo vệ trong quá trình khai thác, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển của xứ Thanh.

Bài 3: Những người giữ mạch nguồn văn hóa

Đăng ký đặt báo