Hà Nội đặt mục tiêu đến ngày 31/12/2027 xử lý toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt phải đưa đến cơ sở xử lý bằng công nghệ đốt phát điện, tiến tới chấm dứt chôn lấp trực tiếp. Trong bối cảnh mỗi ngày Thủ đô phát sinh hơn 8.000 tấn rác sinh hoạt cần thu gom, xử lý tập trung, việc mở rộng công suất các nhà máy điện rác, hoàn thiện hạ tầng thu gom và thúc đẩy phân loại rác tại nguồn được kỳ vọng tạo bước chuyển trong quản lý chất thải, giảm áp lực môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Trước áp lực ngày càng lớn từ lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hằng ngày, Hà Nội đang đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ xử lý rác, từng bước giảm phụ thuộc vào phương pháp chôn lấp truyền thống và phát triển các nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng.
Theo thông tin được Báo Hà Nội Mới đăng tải ngày 29/10/2026, thành phố đặt mục tiêu đến cuối năm 2027 xử lý 100% chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ đốt phát điện, qua đó tiến tới chấm dứt việc chôn lấp trực tiếp rác sinh hoạt.
Đây là mục tiêu quan trọng trong chiến lược giải quyết ô nhiễm môi trường của Thủ đô, đồng thời thể hiện định hướng chuyển từ xử lý chất thải theo phương thức truyền thống sang ứng dụng công nghệ hiện đại, tận dụng nguồn năng lượng từ rác và giảm áp lực lên quỹ đất dành cho các khu chôn lấp.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, hai khu xử lý chất thải rắn tập trung Nam Sơn và Xuân Sơn hiện tiếp nhận, xử lý khoảng 7.775 tấn rác sinh hoạt mỗi ngày.
Trong đó, khoảng 82% lượng rác được xử lý bằng công nghệ đốt phát điện, còn 18% vẫn phải chôn lấp trực tiếp.
Những con số này cho thấy Hà Nội đã có sự chuyển dịch đáng kể về phương thức xử lý chất thải, song vẫn còn một khối lượng lớn rác sinh hoạt phải chôn lấp hằng ngày.
Việc tiếp tục duy trì phương pháp chôn lấp tạo sức ép lên diện tích đất sử dụng, chi phí vận hành, quản lý nước rỉ rác và nguy cơ phát sinh mùi, khí nhà kính, ảnh hưởng đến môi trường tại các khu vực xung quanh.
Trong khi đó, tốc độ đô thị hóa, gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội khiến nhu cầu thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tiếp tục tăng.
Vì vậy, việc nâng công suất xử lý bằng công nghệ đốt phát điện được thành phố xác định là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm năng lực xử lý chất thải trong giai đoạn tới.
Theo thông tin công bố ngày 23/10/2026 trên trang thông tin của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, mục tiêu đến ngày 31/12/2027 là chuyển toàn bộ lượng rác sinh hoạt thuộc diện xử lý tập trung sang công nghệ đốt phát điện, không còn chôn lấp trực tiếp như hiện nay.
Tuy nhiên, đây là mục tiêu kế hoạch, không phải kết quả đã hoàn thành. Việc hiện thực hóa phụ thuộc vào tiến độ đầu tư, vận hành các nhà máy và khả năng tổ chức hệ thống thu gom, xử lý đồng bộ.

Hà Nội là đô thị có quy mô dân số lớn, tập trung nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ, kéo theo lượng chất thải sinh hoạt phát sinh ngày càng tăng.
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường, trong giai đoạn từ ngày 16 đến 23/9/2026, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý trên địa bàn thành phố đạt 54.312,41 tấn.
Trong đó, 41.074,90 tấn được xử lý bằng công nghệ đốt, tương đương 75,6%; còn 13.237,51 tấn được chôn lấp trực tiếp, chiếm 24,4%.
Đến những đợt báo cáo sau, tỷ lệ xử lý bằng công nghệ đốt phát điện tiếp tục tăng, cho thấy xu hướng giảm dần lượng chất thải đưa vào bãi chôn lấp.

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, tháng 9–10/2026
Không chỉ phải xử lý lượng rác phát sinh mới, Hà Nội còn đối mặt với bài toán xử lý khối lượng chất thải tồn lưu rất lớn tại các bãi chôn lấp.
Theo số liệu được công bố, lượng rác tồn lưu tại Nam Sơn ước khoảng 30 triệu tấn, tại Xuân Sơn khoảng 3,69 triệu tấn.
Đây là khối lượng chất thải tích tụ trong thời gian dài, đặt ra yêu cầu đánh giá thành phần rác, xây dựng phương án xử lý phù hợp và tổ chức phục hồi môi trường tại những khu vực đã sử dụng cho hoạt động chôn lấp.
Đặc biệt, không thể đồng nhất việc chấm dứt chôn lấp rác sinh hoạt mới với việc đã xử lý toàn bộ lượng rác tồn lưu trong quá khứ. Đây là hai nhiệm vụ khác nhau về quy mô, thời gian và công nghệ.
Bên cạnh đó, nhu cầu xử lý chất thải của Hà Nội được dự báo tiếp tục gia tăng trong những năm tới.
Theo thông tin công bố đầu tháng 10/2026, đến năm 2030, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố có thể đạt khoảng 13.200 tấn/ngày, trong đó nhu cầu xử lý tại các khu tập trung khoảng 11.200 tấn/ngày.
Điều này cho thấy mục tiêu năm 2027 không chỉ là giải quyết lượng rác hiện tại mà còn phải tạo dư địa công suất để đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai.

Để hiện thực hóa mục tiêu chấm dứt chôn lấp trực tiếp vào cuối năm 2027, Hà Nội đang tập trung hoàn thiện các nhà máy xử lý rác bằng công nghệ đốt thu hồi năng lượng và thúc đẩy những dự án bổ sung công suất.
Trong đó, Nhà máy điện rác Sóc Sơn tại Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn và Nhà máy điện rác Seraphin tại Khu xử lý chất thải Xuân Sơn giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới xử lý chất thải tập trung của thành phố.
Nhà máy điện rác Sóc Sơn là một trong những công trình có công suất xử lý lớn, góp phần giảm lượng chất thải sinh hoạt phải đưa vào các ô chôn lấp.
Trong khi đó, Nhà máy điện rác Seraphin sử dụng công nghệ lò ghi cơ học, gồm ba lò đốt với công suất thiết kế 750 tấn/ngày mỗi lò, tương đương 2.250 tấn/ngày.
Theo thông tin của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, nhà máy Seraphin đang tham gia xử lý chất thải sinh hoạt tại Khu xử lý Xuân Sơn theo phương thức đốt phát điện, góp phần bổ sung năng lực xử lý tại khu vực phía Tây Thủ đô.
Bên cạnh hai cơ sở này, thành phố đang xúc tiến các dự án mở rộng và đầu tư bổ sung, trong đó có dự án Nhà máy Amacao – Thành Công, phương án mở rộng Nhà máy điện rác Sóc Sơn và các khu xử lý chất thải được quy hoạch.
Theo định hướng phát triển hạ tầng môi trường, tổng công suất xử lý chất thải rắn sinh hoạt dự kiến được nâng lên khoảng 9.250 tấn/ngày vào cuối năm 2027 để cân bằng giữa khối lượng rác cần xử lý và năng lực của hệ thống.
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng đánh giá cao nỗ lực của các doanh nghiệp môi trường, đặc biệt là Tập đoàn AMACCAO và Nhà máy điện rác Seraphin trong việc đồng hành cùng Thành phố giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường nhiều năm tại Xuân Sơn.

Chủ tịch UBND Thành phố nhấn mạnh, chỉ vài năm trước, Xuân Sơn và Nam Sơn vẫn là những "điểm nóng" ô nhiễm với mùi rác ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống người dân. Tuy nhiên, việc đưa các nhà máy điện rác vào vận hành đã giúp môi trường khu vực cải thiện rõ rệt, không gian sống đang dần "quay trở lại hiền hòa, gần gũi hơn với người dân".
Đối với các đề xuất của doanh nghiệp, Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng khẳng định Thành phố ủng hộ về chủ trương với tinh thần "những gì phục vụ xử lý môi trường thì phải tạo điều kiện nhanh nhất". Trong đó, đối với dự án chôn lấp tro bay, lãnh đạo Thành phố yêu cầu các sở, ngành khẩn trương hoàn thiện thủ tục vì đây là vấn đề cấp bách; nếu không xử lý kịp thời có thể dẫn tới nguy cơ nhà máy phải dừng hoạt động do không còn diện tích lưu chứa tro bay.
Đây là yêu cầu quan trọng, bởi chỉ khi công suất thiết kế được chuyển thành công suất vận hành thực tế, thành phố mới có khả năng giảm dần và tiến tới chấm dứt chôn lấp trực tiếp.
Việc đẩy nhanh tiến độ các dự án cũng cần đi đôi với công tác nghiệm thu, kiểm soát chất lượng công trình, vận hành thử nghiệm và thực hiện đầy đủ các điều kiện về bảo vệ môi trường.
Đối với những nhà máy có quy mô lớn, quá trình vận hành cần bảo đảm sự ổn định của hệ thống xử lý khí thải, nước thải, tro xỉ và các thiết bị thu hồi năng lượng.
Đặc biệt, việc bổ sung công suất không chỉ là tăng số lượng lò đốt mà phải bảo đảm tính đồng bộ của toàn bộ dây chuyền công nghệ, hạ tầng vận chuyển, tiếp nhận rác, kho lưu chứa và hệ thống xử lý chất thải thứ cấp.

Việc chuyển đổi từ chôn lấp trực tiếp sang công nghệ đốt phát điện được xem là bước tiến quan trọng trong phương thức xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Hà Nội.
Về nguyên lý, rác thải sau khi được tiếp nhận và xử lý sơ bộ sẽ đưa vào hệ thống lò đốt. Nhiệt lượng sinh ra từ quá trình đốt được sử dụng để tạo hơi nước áp suất cao, làm quay tua-bin kết nối với máy phát điện.
Nguồn điện thu hồi có thể phục vụ hoạt động của nhà máy và cung cấp cho hệ thống điện theo điều kiện kỹ thuật, thương mại được phê duyệt.

So với chôn lấp trực tiếp, công nghệ đốt có khả năng giảm đáng kể thể tích chất thải cần xử lý cuối cùng, đồng thời tận dụng một phần năng lượng chứa trong rác.
Việc giảm lượng rác phải chôn lấp giúp hạn chế nhu cầu mở rộng các bãi rác, giảm áp lực lên quỹ đất và góp phần kiểm soát những vấn đề môi trường liên quan đến nước rỉ rác, khí phát sinh và mùi.
Tuy nhiên, công nghệ đốt phát điện không đồng nghĩa với việc loại bỏ hoàn toàn tác động môi trường.
Quá trình đốt rác vẫn tạo ra khí thải, tro đáy và tro bay. Trong đó, tro bay có thể chứa các thành phần nguy hại, cần được thu gom và xử lý theo đặc tính chất thải và các quy định về môi trường.
Vì vậy, những nhà máy điện rác hiện đại phải được trang bị hệ thống kiểm soát khí thải, xử lý nước thải và quản lý tro xỉ phù hợp.
Đặc biệt, dữ liệu quan trắc khí thải cần được theo dõi thường xuyên, bảo đảm hoạt động của nhà máy đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
Việc tái sử dụng tro đáy làm vật liệu xây dựng hoặc thu hồi tài nguyên từ tro xỉ cũng cần được đánh giá kỹ lưỡng, chỉ triển khai khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về kỹ thuật, chất lượng và an toàn môi trường.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, các cơ quan chuyên môn đang nghiên cứu giải pháp xử lý, tái chế tro bay tại các nhà máy điện rác, hướng tới hạn chế tối đa việc chôn lấp chất thải sau đốt.
Điều này cho thấy, phát triển công nghệ điện rác phải gắn với quản lý đầy đủ vòng đời chất thải, không chỉ tập trung vào công suất tiếp nhận và lượng điện sản xuất.
Thực hiện chương trình giám sát năm 2026, ngày 22/10, Thường trực HĐND TP.Hà Nội tổ chức phiên chất vấn về lĩnh vực môi trường. Nội dung chất vấn tập trung vào những vấn đề bức xúc, gồm năm nhóm vấn đề: Quy hoạch, nguồn lực thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường; quản lý chất thải rắn sinh hoạt; chất thải rắn xây dựng; chất thải rắn y tế; chất lượng môi trường không khí.
Đối với chất thải rắn, các vấn đề được đặt ra trong toàn bộ quá trình, từ phân loại, thu gom, trung chuyển, vận chuyển đến tái sử dụng, tái chế, xử lý. Đối với chất lượng môi trường không khí, trọng tâm là kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm như bụi từ công trường xây dựng, đốt rơm rạ, ô nhiễm không khí tại làng nghề…
Phát biểu khai mạc phiên chất vấn, bà Phùng Thị Hồng Hà, Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội, cho biết cùng với quá trình phát triển và đô thị hóa nhanh, Hà Nội đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đời sống của Nhân dân và đặc biệt là sự phát triển bền vững của Thủ đô.

Từ yêu cầu thực tiễn, Thành phố đã xác định ô nhiễm môi trường là một trong 5 điểm "nghẽn" cần tập trung tháo gỡ và đang chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp để từng bước khắc phục.
Đặc biệt, ngày 15/10/2026 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ phát triển mới tiếp tục đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với công tác bảo vệ môi trường.
khai các giải pháp khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và bước đầu đạt được những kết quả. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường vẫn còn bất cập; có những vấn đề tồn tại kéo dài, chậm được giải quyết, ảnh hưởng đến đời sống người dân và được cử tri, Nhân dân quan tâm, phản ánh.
Xuất phát từ thực tiễn đó, chất vấn tập trung vào 4 lĩnh vực: chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn xây dựng, chất thải rắn y tế và chất lượng không khí. Đây là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống người dân, đòi hỏi sự phối hợp, trách nhiệm của các cấp/ngành và sự chung tay của cộng đồng.

Bên cạnh đầu tư các nhà máy điện rác, Hà Nội xác định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và hướng tới kinh tế tuần hoàn.
Việc phân loại giúp tách riêng các thành phần có khả năng tái sử dụng, tái chế và xử lý bằng những công nghệ phù hợp, hạn chế tình trạng mọi loại chất thải đều được thu gom chung rồi chuyển đến nhà máy xử lý tập trung.
Đối với giấy, kim loại, nhựa và các vật liệu có thể tái chế, việc thu hồi riêng ngay từ đầu giúp nâng cao chất lượng nguyên liệu thứ cấp, giảm nhu cầu khai thác tài nguyên mới.
Đối với rác hữu cơ, các nguồn phát sinh tập trung như chợ, nhà hàng, khách sạn và bếp ăn tập thể có thể được tổ chức thu gom riêng để xử lý bằng những phương pháp phù hợp, tạo ra phân hữu cơ hoặc thu hồi năng lượng.
Trong khi đó, các loại rác không còn khả năng tái sử dụng, tái chế có thể được đưa đến cơ sở xử lý bằng công nghệ đốt phát điện theo quy trình đã được phê duyệt.
Đây là điểm cần được làm rõ trong mục tiêu xử lý 100% chất thải rắn sinh hoạt của thành phố: phát triển điện rác không có nghĩa là mọi loại rác, kể cả vật liệu còn có khả năng tái chế, đều nên đưa vào lò đốt.
Nguyên tắc quản lý chất thải bền vững vẫn phải ưu tiên giảm phát sinh, tái sử dụng và tái chế trước khi lựa chọn phương pháp xử lý cuối cùng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thành phố đã cập nhật 1.709 điểm tập kết, trung chuyển chất thải lên bản đồ số, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng GPS và camera trong quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển.
Việc số hóa mạng lưới thu gom tạo điều kiện để cơ quan quản lý theo dõi các tuyến vận chuyển, đánh giá hiệu quả hoạt động và phát hiện những bất cập trong tổ chức dịch vụ vệ sinh môi trường.
Tuy nhiên, phân loại rác tại nguồn chỉ phát huy hiệu quả khi được kết nối đồng bộ với hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý theo từng nhóm chất thải.
Nếu rác đã phân loại vẫn bị trộn lẫn trong quá trình vận chuyển, hiệu quả của hoạt động phân loại sẽ bị suy giảm và khó tạo được sự đồng thuận lâu dài trong cộng đồng.
Do đó, cùng với tuyên truyền nâng cao nhận thức, thành phố cần hoàn thiện hạ tầng thu gom riêng, bố trí phương tiện phù hợp và phát triển mạng lưới cơ sở tái chế, tái sử dụng.


Một trong những nhiệm vụ lớn của Hà Nội trong quá trình chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải là giải quyết lượng rác tồn lưu tại các khu chôn lấp.
Theo số liệu công bố tháng 10/2026, hai khu xử lý Nam Sơn và Xuân Sơn đang lưu giữ tổng cộng khoảng 33,69 triệu tấn rác đã chôn lấp.
Đây là khối lượng rất lớn, hình thành trong thời gian dài và có thành phần phức tạp, đòi hỏi phương án xử lý phù hợp với điều kiện thực tế.
Việc đào, phân loại và xử lý lại rác chôn lấp có thể phát sinh những tác động môi trường nếu không được tổ chức thận trọng.
Trong đó, các yếu tố cần đặc biệt quan tâm gồm mùi, khí phát sinh, nước rỉ rác, bụi, điều kiện ổn định của bãi chôn lấp và an toàn đối với người lao động.
Khác với rác mới phát sinh, chất thải đã chôn lấp nhiều năm thường có sự thay đổi về độ ẩm, thành phần hữu cơ và giá trị nhiệt, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lựa chọn công nghệ.
Vì vậy, việc xử lý rác tồn lưu phải được thực hiện trên cơ sở khảo sát, phân tích thành phần, đánh giá công nghệ và xây dựng phương án bảo vệ môi trường phù hợp.
Bên cạnh xử lý chất thải, thành phố cần chú trọng cải tạo, phục hồi môi trường và sử dụng hiệu quả quỹ đất sau khi các khu chôn lấp hoàn thành nhiệm vụ.
Trước đó, tại buổi kiểm tra Khu xử lý chất thải rắn Xuân Sơn và Nhà máy điện rác Seraphin ngày 20/5/2026, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh yêu cầu gắn công tác xử lý rác với phục hồi môi trường và phát triển đô thị xanh.
Theo hướng tiếp cận này, việc khắc phục ô nhiễm tại các khu xử lý chất thải không chỉ giải quyết vấn đề tồn đọng trước mắt mà còn tạo điều kiện cải thiện môi trường sống cho người dân xung quanh.
Trong dài hạn, các khu vực sau xử lý, phục hồi có thể được nghiên cứu sử dụng theo quy hoạch, đáp ứng yêu cầu an toàn môi trường và phát triển bền vững.
Trả lời chất vấn về các điểm thu gom, chôn lấp và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của Thành phố, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Lê Thanh Nam cho biết, những năm gần đây, Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong xử lý rác thải sinh hoạt tập trung, triển khai công nghệ đốt rác phát điện. Đến nay, Thành phố đã có hai nhà máy đi vào hoạt động, góp phần giảm lượng rác phải chôn lấp.
Thành phố đặt mục tiêu đến hết năm 2027 cơ bản xử lý toàn bộ lượng rác phát sinh bằng các giải pháp phù hợp, đồng thời tính toán nhu cầu xử lý trong năm 2030 và những năm tiếp theo, có tính đến tốc độ gia tăng dân số và khối lượng chất thải sinh hoạt.

Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, định hướng quy hoạch của Hà Nội sẽ tập trung vào các giải pháp xử lý đồng bộ, trong đó tiếp tục triển khai thêm các nhà máy. Việc bố trí thêm các cơ sở xử lý nhằm giảm quãng đường vận chuyển rác, rút ngắn thời gian di chuyển của phương tiện, qua đó hạn chế tác động đến môi trường. Về công suất xử lý và khả năng tái chế, lãnh đạo Sở cho biết sẽ kiểm tra, rà soát lại các số liệu, bảo đảm việc tính toán đáp ứng nhu cầu thực tế, bao gồm cả lượng chất thải có thể phát sinh thêm trong thời gian tới.
Hiện tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại khu vực trung tâm Thành phố đạt 100%, vượt chỉ tiêu từ 95% đến 98% theo quy định của Trung ương. Thành phố tiếp tục triển khai các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, hướng tới giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải.
Liên quan đến chất thải y tế, lãnh đạo Sở khẳng định về nguyên tắc, các chất thải y tế đã được thu gom, xử lý. Tuy nhiên, trước những vấn đề được phản ánh qua phóng sự tại phiên chất vấn, Sở sẽ phối hợp với ngành Y tế kiểm tra và xử lý ngay những trường hợp chưa bảo đảm yêu cầu.
Đối với khu xử lý chất thải Nam Sơn, Thành phố đang triển khai thêm hai nhà máy xử lý bùn, rác để phục vụ đốt phát điện. Mục tiêu đặt ra là giảm dần, tiến tới chấm dứt tình trạng chôn lấp rác, hạn chế nước rỉ rác và các nguồn gây ô nhiễm tại khu vực này trong những năm tới.

Để đạt mục tiêu vào cuối năm 2027, Hà Nội cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó hoàn thiện cơ chế đầu tư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước là những yếu tố then chốt.
Các dự án điện rác thường đòi hỏi nguồn vốn lớn, công nghệ phức tạp, thời gian đầu tư kéo dài và chi phí vận hành cao.
Vì vậy, việc lựa chọn công nghệ phải phù hợp với thành phần chất thải, năng lực tài chính và yêu cầu bảo vệ môi trường của địa phương.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế giá dịch vụ xử lý chất thải hợp lý, minh bạch, bảo đảm khả năng duy trì hoạt động của nhà máy mà không làm gia tăng chi phí thiếu kiểm soát.
Đối với các cơ sở đang hoạt động, thành phố cần tăng cường giám sát công suất xử lý thực tế, tỷ lệ vận hành ổn định, hiệu quả thu hồi năng lượng và việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

Đặc biệt, việc quan trắc khí thải tự động, liên tục và kết nối dữ liệu với cơ quan chức năng có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa nguy cơ ô nhiễm.
Trong trường hợp phát hiện những chỉ tiêu môi trường vượt quy chuẩn, cơ quan quản lý phải yêu cầu đơn vị vận hành thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định, không để mục tiêu tăng công suất xử lý ảnh hưởng đến an toàn môi trường.
Cùng với đó, các nhà máy điện rác cần công khai những thông tin môi trường phù hợp để người dân có thể theo dõi, giám sát.
Việc phát triển điện rác cũng cần được gắn với chiến lược giảm phát thải khí nhà kính, đánh giá hiệu quả năng lượng và thúc đẩy chuyển đổi xanh trong lĩnh vực hạ tầng đô thị.
Để bảo đảm mục tiêu chấm dứt chôn lấp trực tiếp được duy trì lâu dài, công suất xử lý phải có dự phòng phù hợp, tránh tình trạng lượng rác phát sinh vượt quá khả năng tiếp nhận khi nhà máy bảo trì hoặc xảy ra sự cố.

Mục tiêu xử lý toàn bộ rác sinh hoạt bằng công nghệ đốt phát điện vào cuối năm 2027 là một trong những định hướng đáng chú ý của Hà Nội trong quá trình giải quyết các vấn đề môi trường đô thị.
Tuy nhiên, kết quả của quá trình chuyển đổi không chỉ được đo bằng tỷ lệ chất thải đưa vào lò đốt mà còn phải được đánh giá thông qua hiệu quả giảm ô nhiễm, tỷ lệ tái chế, khả năng thu hồi năng lượng và chất lượng sống của người dân.
Trong dài hạn, một hệ thống quản lý chất thải hiện đại cần được tổ chức theo chuỗi khép kín, từ giảm phát sinh, phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế đến xử lý phần còn lại bằng công nghệ phù hợp.
Đồng thời, phải từng bước giải quyết lượng chất thải tồn lưu, phục hồi các khu vực bị ảnh hưởng bởi hoạt động chôn lấp và tăng cường quản lý những chất thải phát sinh sau quá trình đốt.
Sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành thói quen tiêu dùng bền vững, hạn chế rác thải nhựa và thúc đẩy phân loại chất thải tại nguồn.
Về phía cơ quan quản lý, cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, công khai dữ liệu môi trường và xây dựng hệ thống giám sát hiệu quả, bảo đảm quá trình chuyển đổi công nghệ diễn ra minh bạch, an toàn.
Đặc biệt, việc tăng cường công suất các nhà máy điện rác cần được đặt trong tổng thể chiến lược kinh tế tuần hoàn, thay vì chỉ tập trung mở rộng quy mô xử lý cuối nguồn.
Với mục tiêu chấm dứt chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt vào ngày 31/12/2027, Hà Nội đang đứng trước cơ hội chuyển đổi căn bản phương thức quản lý rác thải đô thị. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố cần bảo đảm tiến độ các dự án điện rác, hoàn thiện hệ thống thu gom, đẩy mạnh phân loại tại nguồn và kiểm soát nghiêm ngặt tác động môi trường. Khi những giải pháp được triển khai đồng bộ, chất thải không chỉ được xử lý an toàn hơn mà còn có thể trở thành nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế tuần hoàn, góp phần xây dựng Thủ đô xanh, sạch và bền vững.
Hoàng Việt