
Di sản dày, sản phẩm còn mỏng
Theo thống kê của ngành văn hóa, Thanh Hóa có 1.535 di tích được kiểm kê, công bố. Trong đó, 858 di tích đã xếp hạng, gồm 1 di sản văn hóa thế giới, 5 di tích quốc gia đặc biệt, 139 di tích quốc gia và 713 di tích cấp tỉnh. Tỉnh còn có 28 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và 8 bảo vật quốc gia.
Đó là nguồn tài nguyên được hình thành qua nhiều lớp lịch sử và không gian cư trú. Từ di chỉ khảo cổ Đông Sơn, Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, đền Bà Triệu đến các di tích cách mạng, tín ngưỡng; từ lễ hội, trò diễn dân gian đến văn hóa Mường, Thái, Mông, Dao..., mỗi di sản lưu giữ những giá trị riêng về lịch sử, phong tục và đời sống cộng đồng.
Nhưng số lượng di tích, danh hiệu mới phản ánh quy mô tài nguyên đã được nhận diện. Giá trị của nguồn tài nguyên ấy đến đâu còn phụ thuộc vào cách bảo vệ, quản lý và đưa di sản vào đời sống.

Thành Nhà Hồ là một ví dụ. Được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa thế giới năm 2011, công trình có giá trị nổi bật về kiến trúc thành đá và kỹ thuật xây dựng cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV. Giá trị di sản không chỉ nằm ở những bức tường thành mà còn gắn với cảnh quan, dấu tích khảo cổ và đời sống cư dân trong vùng phụ cận.
Năm 2025, tỉnh phê duyệt dự án bảo tồn, tu bổ và phục hồi một số hạng mục quan trọng của Thành Nhà Hồ với tổng mức đầu tư 354 tỷ đồng, thực hiện giai đoạn 2025-2028. Nguồn vốn này cần thiết để bảo vệ di tích, nhưng tu bổ mới là một phần công việc. Bài toán tiếp theo là làm sao để khách đến không chỉ tham quan thành rồi rời đi, mà còn có thêm trải nghiệm về lịch sử, làng quê, cảnh quan và sản phẩm địa phương.
Lam Kinh cũng có lợi thế lớn về giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan. Lễ hội Lam Kinh hằng năm góp phần giới thiệu truyền thống, thu hút du khách. Tuy nhiên, nếu hoạt động tham quan chủ yếu tập trung vào di tích và mùa lễ hội, khả năng giữ chân khách, kéo dài thời gian lưu trú vẫn hạn chế. Muốn tạo hành trình có chiều sâu, cần kết nối di tích với các điểm đến, làng nghề và sản phẩm văn hóa ở khu vực lân cận.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Trưởng phòng Quản lý Du lịch (Sở Du lịch tỉnh Thanh Hóa), chia sẻ: “Thanh Hóa sở hữu kho tàng di sản đồ sộ, nhưng để biến tài nguyên thành nguồn lực cho du lịch phát triển lại là một bài toán hoàn toàn khác. Nhìn thẳng vào thực tế, nhiều di tích, di sản của chúng ta hiện mới chỉ dừng lại ở mức độ ‘điểm đến tham quan thuần túy’ chứ chưa tạo thành chuỗi trải nghiệm chuyên sâu. Du khách đến ngắm nhìn rồi đi, tỷ lệ quay lại hay mức độ chi tiêu còn khiêm tốn vì thiếu các sản phẩm bổ trợ, thiếu sự kết nối giữa vùng lõi di sản với không gian văn hóa bản địa xung quanh.

Cũng theo bà Nguyệt, muốn “đánh thức” nguồn lực này, ngành du lịch không thể làm một mình, mà cần sự phối hợp liên ngành để hoàn thiện hạ tầng, thu hút các nhà đầu tư chiến lược tạo ra sản phẩm sáng tạo, và quan trọng nhất là đưa người dân địa phương tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng dịch vụ. Chỉ khi cộng đồng sống được và giàu lên từ di sản, nguồn lực văn hóa mới thực sự phát huy giá trị bền vững.
Thực tế khai thác di sản tại Thanh Hóa cho thấy: danh tiếng điểm đến chỉ mới giải quyết khâu "thu hút", còn chuỗi dịch vụ và trải nghiệm bản địa mới là chìa khóa "giữ chân" du khách. Để lấp đầy khoảng trống này, địa phương cần sự kết nối liên ngành giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng người dân trong việc biến giá trị lịch sử, ẩm thực và làng nghề thành các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.
Giữ di sản phải bắt đầu từ cộng đồng
Nếu di tích vật thể được nhận diện qua công trình, hiện vật và dấu tích khảo cổ, di sản phi vật thể tồn tại trong ký ức, tri thức và hoạt động thực hành của con người. Một làn điệu dân ca chỉ có sức sống khi còn người hát, người nghe; một trò diễn dân gian không thể được bảo tồn đầy đủ chỉ bằng việc ghi hình hay tổ chức biểu diễn trong vài dịp lễ hội.

Thanh Hóa có nhiều loại hình diễn xướng như trò Xuân Phả, trò Chiềng, múa đèn Đông Anh, hò sông Mã, cùng những thực hành văn hóa đặc sắc của đồng bào Mường, Thái và các dân tộc miền núi. Nhưng khi người trẻ đi làm ăn xa, nghệ nhân ngày càng cao tuổi, việc truyền dạy gặp khó khăn, nguy cơ mai một không còn là chuyện xa.
Hiện nay, Thanh Hóa đã số hóa 844 hồ sơ khoa học di tích, hơn 1.000 hiện vật, 3 bảo vật quốc gia và 16 hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể. Đây là bước cần thiết để lưu giữ tư liệu, hỗ trợ quản lý và giới thiệu di sản. Tuy nhiên, hồ sơ số không thể thay thế người thực hành. Một làn điệu được ghi âm vẫn cần người hát; một trò diễn được tư liệu hóa vẫn cần lớp người kế tục để tiếp tục hiện diện trong đời sống.

Ở miền núi, văn hóa còn gắn chặt với sinh kế và không gian bản làng. Du lịch cộng đồng tại Pù Luông và một số địa bàn đã mở cơ hội giới thiệu nhà sàn, ẩm thực, nghề thủ công, tập quán của người dân đến du khách. Nhưng điều cần quan tâm là người dân tham gia vào khâu nào, sản phẩm do họ làm ra có được tiêu thụ không và thu nhập từ du lịch có giúp duy trì nghề truyền thống hay không.
Nếu người dân chỉ cung cấp lao động, còn phần lớn giá trị kinh tế nằm ở những khâu dịch vụ bên ngoài cộng đồng, du lịch khó trở thành động lực bảo tồn lâu dài. Khi người dân trực tiếp làm lưu trú, chế biến ẩm thực, bán sản phẩm thủ công và giới thiệu văn hóa của mình, họ có thêm điều kiện để gìn giữ những giá trị đang có.

Dẫu vậy, không phải di sản nào cũng cần trở thành sản phẩm du lịch. Những nghi lễ, tập quán mang ý nghĩa thiêng liêng phải được tôn trọng, không thể tùy tiện sân khấu hóa hoặc làm sai lệch giá trị gốc. Việc khai thác phải đặt cộng đồng nắm giữ di sản ở vị trí chủ thể, bảo đảm họ có quyền tham gia và được hưởng lợi.
Với hệ thống di tích phân bố rộng, Thanh Hóa còn phải giải quyết bài toán kinh phí và năng lực quản lý ở cơ sở. Những di tích lớn, có danh hiệu thường thuận lợi hơn trong tiếp cận đầu tư và quảng bá. Trong khi đó, nhiều di tích cấp cơ sở và loại hình văn hóa ít được biết đến vẫn phụ thuộc vào kinh phí địa phương, sự tận tâm của nghệ nhân và cộng đồng.
Xếp hạng, tu bổ, số hóa là những việc cần thiết, nhưng chưa đủ để đánh thức nguồn lực văn hóa. Điều quan trọng là di sản còn được thực hành, nghệ nhân có người kế tục, sản phẩm địa phương có thị trường và người dân được hưởng lợi từ chính những giá trị họ gìn giữ. Nếu thiếu những điều kiện ấy, kho tàng di sản dù đồ sộ vẫn khó trở thành động lực phát triển thực chất.
Bài 2: Di sản và những điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa