
Mới đây, UBND TP.HCM đã ban hành kế hoạch phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và tiêu thụ đến năm 2030.
Theo kế hoạch, TP.HCM phấn đấu có 5.500 ha diện tích canh tác rau, tổng diện tích gieo trồng đạt 35.000 ha, sản lượng khoảng 880.000 tấn. Trong đó, diện tích gieo trồng ứng dụng công nghệ cao đạt 12.000 ha; diện tích canh tác hữu cơ khoảng 48-50 ha; 60% diện tích gieo trồng là rau an toàn, tập trung và có truy xuất nguồn gốc.
Thành phố cũng đặt mục tiêu 100% mẫu rau sản xuất tại địa phương được kiểm tra đạt yêu cầu an toàn, hình thành từ 10-15 chuỗi thực phẩm an toàn đối với ngành hàng rau. Giá trị sản xuất bình quân được kỳ vọng đạt từ 800 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm.
Để hiện thực hóa mục tiêu, TP.HCM định hướng phát triển các vùng chuyên canh theo VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao; đồng thời tổ chức sản xuất tập trung đối với một số sản phẩm đặc trưng như rau muống nước, rau nhút, rau mốp.
Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM được giao làm đầu mối triển khai, tập trung đào tạo, chuyển giao khoa học công nghệ, hướng dẫn quy trình sản xuất an toàn, cải tiến hoạt động sơ chế, bảo quản và giảm tổn thất sau thu hoạch. Công tác quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và ứng dụng công nghệ số trong quản trị chuỗi cung ứng cũng được đẩy mạnh.
Tuy nhiên, việc mở rộng sản xuất rau theo các tiêu chuẩn an toàn vẫn gặp không ít khó khăn, nhất là tại khu vực sản xuất quy mô nhỏ. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, năm 2025, cả nước có khoảng 1,15 triệu ha rau nhưng diện tích được chứng nhận VietGAP chỉ hơn 8.000 ha, tương đương khoảng 0,5-0,6%.
Chi phí tuân thủ, yêu cầu ghi chép hồ sơ, đánh giá và duy trì chứng nhận được xem là những rào cản đối với nhiều hộ sản xuất. Trong khi đó, giá trị gia tăng từ sản phẩm chưa đủ hấp dẫn để bù đắp các chi phí phát sinh.
Từ thực tế này, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp với Viện Nghiên cứu Rau quả tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) “Quy trình sản xuất, sơ chế rau bảo đảm an toàn thực phẩm”.
Theo PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, dự thảo được xây dựng trên cơ sở pháp lý, khoa học, thực tiễn và tính nhân văn; đồng thời kế thừa có chọn lọc các quy định trong nước và quốc tế như VietGAP, AseanGAP, GlobalGAP, TCVN ISO 22000:2018 và các quy định về truy xuất nguồn gốc.
Đáng chú ý, quá trình xây dựng dự thảo có sự khảo sát trực tiếp tại các địa phương, gặp gỡ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhằm nhận diện những khó khăn trong thực tế sản xuất.
PGS.TS Đặng Văn Đông cho rằng, nếu tiêu chuẩn chỉ phù hợp với doanh nghiệp lớn hoặc hợp tác xã có nguồn lực thì sẽ khó bao phủ khu vực sản xuất nhỏ lẻ. Do đó, việc giảm chi phí chứng nhận, đơn giản hóa quy trình và tạo điều kiện để nông hộ tham gia chuỗi cung ứng là những yếu tố quan trọng.
Ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết phần lớn rau tiêu thụ hằng ngày vẫn được sản xuất bởi các hộ có quy mô từ vài sào đến vài nghìn mét vuông. Vì vậy, bộ tiêu chuẩn cần vừa bảo đảm yêu cầu về an toàn thực phẩm, vừa đơn giản, dễ hiểu và phù hợp với khả năng áp dụng trong thực tế.
Tiêu chuẩn mới không nhằm thay thế VietGAP mà mở thêm một lựa chọn phù hợp với yêu cầu của từng thị trường. Dự thảo hướng tới tinh giản hồ sơ, chuyển các yêu cầu kỹ thuật thành hướng dẫn thực hành trực quan, đồng thời tăng cường sử dụng nhật ký điện tử trên điện thoại thông minh.
Việc hoàn thiện tiêu chuẩn song hành với tổ chức lại vùng sản xuất và tăng cường liên kết chuỗi được xem là hướng đi quan trọng để mở rộng sản xuất rau an toàn. Khi các quy định được thiết kế sát hơn với điều kiện thực tế, nông hộ quy mô nhỏ sẽ có thêm điều kiện tham gia vào chuỗi cung ứng, góp phần nâng cao chất lượng nông sản và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.