
"Rau sạch" nhưng... sạch từ đâu?
Khoảng 6 giờ sáng, khu chợ dân sinh ở trung tâm tỉnh Thanh Hóa đã tấp nập người mua kẻ bán. Trên những sạp rau xanh mướt, không khó để bắt gặp các tấm biển viết tay với dòng chữ "rau sạch", "rau nhà trồng", "rau an toàn". Một số loại rau còn được đóng túi cẩn thận, dán tem và mã QR khá bắt mắt.
Khi được hỏi về nơi sản xuất, người bán nhanh chóng giới thiệu: "Rau nhà trồng", "rau lấy từ vùng chuyên canh", "ăn yên tâm lắm". Thế nhưng, khi người mua đề nghị xem thông tin truy xuất hoặc giấy tờ chứng minh nguồn gốc, phần lớn chỉ nhận được những lời giải thích khá chung chung.
Thực tế này không phải hiện tượng cá biệt. Cùng với xu hướng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng thực phẩm, những cụm từ như "rau sạch", "rau an toàn", "rau hữu cơ", "rau nhà trồng" xuất hiện ngày càng phổ biến tại các chợ truyền thống. Trong khi đó, theo quy định, truy xuất nguồn gốc không chỉ là việc dán một chiếc tem hay một mã QR lên bao bì mà phải cho phép xác định được vùng sản xuất, đơn vị chịu trách nhiệm, quy trình canh tác, thời điểm thu hoạch và các thông tin liên quan đến từng lô hàng.
Khoảng cách giữa yêu cầu đó với thực tế tại nhiều điểm bán đang tạo nên những "khoảng mờ", khiến người tiêu dùng khó phân biệt đâu là nông sản được kiểm soát theo chuỗi, đâu chỉ là những lời giới thiệu mang tính thương mại.

Theo ông Hoàng Công Lợi, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hóa, hàng hóa không có thông tin truy xuất nguồn gốc cũng gây nhiều khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý vi phạm. Đối với nông sản được thu mua từ nhiều hộ nhỏ lẻ, khi xảy ra vấn đề về chất lượng hoặc an toàn thực phẩm, việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm rất phức tạp. Không ít trường hợp lực lượng chức năng phải lấy mẫu kiểm nghiệm, giám định chất lượng trước khi có căn cứ xử lý, vừa kéo dài thời gian, vừa làm tăng chi phí kiểm tra.
Nhà nông vẫn loay hoay với cuộc chơi số hóa
Trái ngược với những lời quảng bá khá dễ dàng trên thị trường, tại nhiều vùng chuyên canh rau của Thanh Hóa, việc tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc vẫn là hành trình nhiều trở ngại.
Tại các vùng sản xuất ở Hoằng Hóa, Quảng Xương, Thiệu Hóa hay Đông Sơn, phần lớn hộ trồng rau vẫn canh tác quy mô nhỏ. Người trực tiếp làm ruộng chủ yếu là lao động trung niên hoặc cao tuổi. Với họ, việc ghi chép nhật ký sản xuất bằng giấy đã không đơn giản, còn sử dụng điện thoại thông minh để cập nhật dữ liệu điện tử càng trở nên xa lạ.
Hai kiểu "đánh lừa" bằng mã QR
Theo Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hóa, hiện nay xuất hiện hai hình thức sử dụng mã QR dễ gây hiểu nhầm:
Sao chép mã QR của các vùng sản xuất hoặc cơ sở đạt chuẩn để dán lên nông sản không rõ nguồn gốc, hợp thức hóa hàng hóa.
Sử dụng mã QR chỉ để quảng bá, dẫn đến website hoặc trang mạng xã hội của cơ sở kinh doanh mà không hiển thị dữ liệu về vùng sản xuất, lô hàng, quy trình canh tác, thời gian thu hoạch và đơn vị chịu trách nhiệm.
Ông Lê Văn Đạt, hộ trồng rau tại xã Hoằng Thanh, cho biết gia đình đang canh tác hơn hai sào rau màu. Toàn bộ sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu bán cho thương lái hoặc mang ra chợ dân sinh.
"Tôi biết làm nhật ký sản xuất, làm mã vùng trồng sẽ tốt hơn cho sản phẩm. Nhưng quy trình thế nào, bắt đầu từ đâu thì cũng chưa nắm rõ. Giá rau bán không cao hơn bao nhiêu, trong khi mỗi ngày còn phải lo đầu ra nên rất khó dành thêm thời gian và chi phí cho các thủ tục mới", ông Đạt chia sẻ.
Theo nhiều hộ nông dân, điều khiến họ e ngại không phải là chủ trương minh bạch hóa nguồn gốc mà là chi phí đầu tư, yêu cầu kỹ thuật và khả năng tiếp cận công nghệ.
Đại diện bộ phận phụ trách kinh tế của UBND xã Hoằng Thanh cho biết, địa phương nhiều lần vận động người dân tham gia các mô hình sản xuất an toàn, song quá trình triển khai vẫn còn gặp không ít khó khăn.
"Nông dân đều hiểu đây là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, để thay đổi tập quán sản xuất cần có thời gian, nguồn lực hỗ trợ và đặc biệt là đầu ra ổn định. Nếu sản phẩm được chứng nhận vẫn bán với giá gần như rau thông thường thì rất khó tạo động lực để người dân đầu tư thêm chi phí và công sức", đại diện địa phương chia sẻ.

Nếu người sản xuất nhỏ còn loay hoay với việc tiếp cận truy xuất nguồn gốc thì ngay cả những đơn vị đầu tư bài bản cũng đang đối mặt với không ít áp lực.
Ông Lê Ngọc Nam, Giám đốc HTX Nông nghiệp công nghệ cao Hoằng Đạt, cho biết nhiều năm qua, hợp tác xã duy trì quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, thực hiện ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý vật tư đầu vào, kiểm soát thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật và dán tem truy xuất lên từng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.
Tuy nhiên, theo ông Nam, chứng nhận VietGAP của hợp tác xã đã hết hạn từ cuối năm 2025. Hợp tác xã đã hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp lại và hiện vẫn đang chờ hoàn tất các thủ tục.
"Trong thời gian chờ cấp lại, chúng tôi vẫn duy trì quy trình sản xuất như trước. Chỉ riêng chi phí in tem truy xuất và mã QR đã khoảng 380 đồng mỗi tem, chưa kể chi phí duy trì hồ sơ, ghi chép và kiểm soát quy trình. Đầu tư rất nhiều nhưng khi ra thị trường, sản phẩm vẫn phải cạnh tranh với những loại rau chỉ cần gắn mác 'rau sạch', 'rau nhà trồng' là người tiêu dùng đã tin tưởng", ông Nam chia sẻ.
Thực tế này cho thấy một nghịch lý trên thị trường nông sản. Trong khi những đơn vị sản xuất bài bản phải đầu tư chi phí để duy trì quy trình sản xuất, hệ thống hồ sơ quản lý và tem truy xuất nguồn gốc thì không ít sản phẩm chỉ cần gắn các danh xưng như "rau sạch", "rau an toàn", "rau nhà trồng" vẫn dễ dàng tạo được niềm tin với người tiêu dùng mà không đi kèm hệ thống dữ liệu chứng minh.
Chiếc tem không đủ tạo nên niềm tin
Tại nhiều chợ dân sinh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, không ít loại rau, củ, quả được đóng gói cẩn thận và dán mã QR. Tuy nhiên, khi người mua quét mã, nhiều trường hợp chỉ dẫn đến website hoặc trang mạng xã hội của cơ sở kinh doanh, thay vì hiển thị đầy đủ thông tin về vùng sản xuất, lô hàng, quy trình canh tác, thời gian thu hoạch hay đơn vị chịu trách nhiệm.
Theo ông Hoàng Công Lợi, đây là tình trạng lực lượng quản lý thị trường đã ghi nhận trong quá trình kiểm tra. "Có những mã QR chỉ dẫn đến website hoặc trang Facebook của cơ sở kinh doanh. Đó chỉ là mã liên kết thông tin, chứ chưa phải hệ thống truy xuất nguồn gốc đúng nghĩa", ông Lợi cho biết.

Theo ông, hiện nay còn xuất hiện tình trạng một số đối tượng lợi dụng tâm lý chuộng công nghệ của người tiêu dùng để gian lận. Có trường hợp trộn nông sản không rõ nguồn gốc rồi dán mã QR sao chép từ các cơ sở sản xuất đạt chuẩn; cũng có trường hợp sử dụng những mã QR không chứa dữ liệu về lô hàng, vùng sản xuất hay quá trình canh tác, khiến người mua dễ nhầm tưởng sản phẩm đã được kiểm soát nguồn gốc.
Trong khi đó, không ít người tiêu dùng vẫn có thói quen đánh giá chất lượng sản phẩm qua hình thức bao bì hoặc sự xuất hiện của tem, mã QR mà chưa kiểm tra thông tin hiển thị sau khi quét mã.
Theo Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hóa, giá trị của truy xuất nguồn gốc không nằm ở chiếc tem hay mã QR, mà nằm ở hệ thống dữ liệu phía sau. Một mã truy xuất đúng nghĩa phải cho phép xác định được nơi sản xuất, đơn vị chịu trách nhiệm, ngày thu hoạch, đóng gói, đơn vị phân phối cùng các thông tin liên quan đến từng lô hàng.
Việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc là xu thế tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, để mục tiêu đó thực sự đi vào cuộc sống, bên cạnh việc hỗ trợ người sản xuất tham gia chuỗi truy xuất, các cơ quan quản lý cũng cần tăng cường kiểm soát việc sử dụng các thông tin quảng bá như "rau sạch", "rau an toàn", "rau nhà trồng" cũng như việc sử dụng tem và mã QR trên thị trường, hạn chế tình trạng gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng.
Chỉ khi dữ liệu trở thành nền tảng của niềm tin, thay vì những lời giới thiệu hay những chiếc tem được thiết kế bắt mắt, truy xuất nguồn gốc mới thực sự phát huy giá trị, bảo vệ người tiêu dùng và tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho những người sản xuất chân chính.
Bài cuối: Khi chính sách cần đi cùng nhịp thực tiễn