Tháo gỡ vướng mắc về quyền sở hữu và phân chia lợi ích tín chỉ carbon

Việc phát triển thị trường carbon không chỉ đòi hỏi hành lang pháp lý rõ ràng về quyền sở hữu, chuyển giao và phân chia lợi ích từ tín chỉ carbon mà còn đặt ra yêu cầu minh bạch dữ liệu phát thải trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ quản lý tài nguyên rừng đến trách nhiệm của doanh nghiệp, các cơ chế mới cần bảo đảm lợi ích hài hòa, hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng kiểm chứng.
thao-go-vuong-mac-ve-quyen-so-huu-va-phan-chia-loi-ich-tin-chi-carbon-1794052311.jpg
Thị trường carbon trước yêu cầu minh bạch quyền sở hữu và dữ liệu phát thải.

Làm rõ quyền sở hữu, bảo đảm lợi ích từ tín chỉ carbon

Thị trường carbon đang từng bước trở thành một cấu phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp. Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả, việc thiết lập các quy định về giao dịch tín chỉ mới chỉ là một phần của bài toán. Những vấn đề liên quan đến xác lập quyền sở hữu, phân phối nguồn thu, kiểm soát hoạt động chuyển giao quốc tế và minh bạch thông tin phát thải cũng cần được giải quyết đồng bộ.

Tại phiên thảo luận ở hội trường ngày 6/11/2026 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề cập đến những yêu cầu này. Đáng chú ý, các ý kiến tập trung vào việc bảo đảm quyền lợi của cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, xác định trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý giao dịch carbon và tăng cường tính minh bạch trong quá trình hình thành, sử dụng kết quả giảm phát thải.

Đối với các dự án tạo ra kết quả giảm phát thải khí nhà kính và hấp thụ khí nhà kính, việc xác định ai có quyền hưởng lợi đang trở thành vấn đề cần được quy định cụ thể. Đặc biệt, tại những địa phương có diện tích rừng lớn, sự tham gia của hộ gia đình và cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ tài nguyên, duy trì khả năng hấp thụ carbon.

Góp ý về nội dung sửa đổi Điều 139 và bổ sung Điều 139a, đại biểu Sùng A Lềnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai, cho rằng dự thảo cần xác định rõ các chủ thể được hưởng lợi, nguyên tắc phân chia và chính sách hỗ trợ những đối tượng trực tiếp tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải.

Đại biểu Sùng A Lềnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai - Ảnh:quochoi.vn
Đại biểu Sùng A Lềnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai đề nghị làm rõ cơ chế phân chia lợi ích và hỗ trợ các chủ thể tham gia giảm phát thải.

Theo đại biểu, “các quy định này cần được xác lập ngay trong Luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, nhất là tại các tỉnh miền núi, biên giới có diện tích rừng lớn”.

Từ yêu cầu đó, đại biểu đề nghị việc phân chia lợi ích phải căn cứ vào mức độ đóng góp và trách nhiệm của từng chủ thể, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với các quy định pháp luật về lâm nghiệp. Chính phủ cần được giao hướng dẫn cụ thể phương pháp xác định quyền hưởng lợi, quy trình chi trả cũng như phương án xử lý những bất đồng có thể phát sinh.

Một yêu cầu khác là toàn bộ quá trình phân phối nguồn thu phải được công khai, từ doanh thu tạo ra, chi phí triển khai đến khoản tiền thực tế mỗi bên nhận được. Đối với những hộ gia đình và cộng đồng có quy mô nhỏ, việc tham gia thị trường carbon còn gặp trở ngại về năng lực chuyên môn, kinh phí và khả năng tiếp cận các tổ chức trung gian. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ kỹ thuật, kết nối các chủ thể và xây dựng phương pháp đo đạc thống nhất. Kết quả giảm phát thải cũng cần được thẩm định độc lập, lưu trữ trên hệ thống dữ liệu có khả năng kiểm chứng.

Ở góc độ quyền sở hữu, đại biểu Thạch Phước Bình, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long, lưu ý rằng không phải mọi tín chỉ carbon được tạo ra từ một dự án đều đương nhiên thuộc về chủ thể trực tiếp triển khai dự án đó.

Vấn đề này đặc biệt đáng quan tâm đối với các dự án khai thác giá trị carbon từ rừng tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân, đất do Nhà nước giao, nguồn vốn ngân sách, vốn ODA, hạ tầng công hoặc hoạt động bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng. Trong những trường hợp như vậy, kết quả giảm phát thải có thể được hình thành từ nhiều nguồn lực và sự đóng góp của nhiều bên. Nếu quyền sở hữu không được xác định ngay từ đầu, nguy cơ bất đồng về quyền hưởng lợi trong quá trình triển khai và giao dịch tín chỉ có thể gia tăng.

Đại biểu Thạch Phước Bình đề xuất xác lập quyền đối với kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon dựa trên nguồn lực đầu tư, quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản, tài nguyên tạo ra kết quả và thỏa thuận giữa các bên. Riêng những kết quả hình thành từ tài sản công, tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực cộng đồng cần được xác lập, phân chia lợi ích theo quy định pháp luật.

cacbon-1794052471.jpg
Quyền sở hữu tín chỉ carbon cần gắn với nguồn lực đóng góp và thỏa thuận hợp pháp giữa các bên.

Bên cạnh quyền sở hữu, đại biểu cũng đánh giá việc bổ sung Điều 139a là cần thiết để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Tuy nhiên, hoạt động chuyển giao ra nước ngoài cần được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi thực hiện. Chính phủ cần quy định rõ điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như cơ chế điều chỉnh, đình chỉ hoặc thu hồi quyết định chấp thuận.

Minh bạch dữ liệu carbon, gắn trách nhiệm môi trường với tài chính doanh nghiệp

Không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện cơ chế quản lý tín chỉ, sự phát triển của thị trường carbon còn buộc doanh nghiệp thay đổi cách tiếp cận đối với dữ liệu phát thải. Khi carbon ngày càng gắn với nghĩa vụ tuân thủ, chi phí sản xuất và hoạt động thương mại quốc tế, việc đo lường lượng phát thải cần được kết nối chặt chẽ với hệ thống quản trị tài chính.

Thực tế tại Liên minh châu Âu (EU) cho thấy các cơ sở thuộc Hệ thống giao dịch phát thải EU ETS phải thực hiện giám sát, báo cáo lượng phát thải hằng năm và thẩm tra để đáp ứng nghĩa vụ nộp trả hạn ngạch. Trong khi đó, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin về lượng phát thải hàm chứa trong một số mặt hàng nhập khẩu. Điều này khiến việc kiểm kê không chỉ giới hạn ở phạm vi nhà máy mà còn phải tiến tới xác định dấu chân carbon của từng sản phẩm.

Tại Việt Nam, Quyết định số 232/QĐ-TTg về lộ trình phát triển thị trường carbon trong nước đã đặt nền móng cho việc triển khai các cơ chế giao dịch liên quan. Tiếp đó, ngày 9/2/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 263/QĐ-TTg về tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm năm 2025 và 2026 đối với 110 cơ sở thuộc các ngành nhiệt điện, sắt thép và xi măng.

Những thay đổi này khiến thông tin phát thải ngày càng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định chi phí, nghĩa vụ tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, kế toán carbon cần được xem xét như một bộ phận trong hệ thống quản trị, thay vì chỉ là công cụ thống kê phục vụ báo cáo môi trường.

Để triển khai, doanh nghiệp cần xây dựng quy trình thu thập, đối chiếu và lưu trữ dữ liệu phát thải, xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận từ sản xuất, quản lý môi trường đến kế toán. Các thông tin về tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, quy trình vận hành và lượng khí nhà kính phát sinh cần được liên kết nhằm nhận diện công đoạn gây phát thải lớn, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực và lựa chọn giải pháp giảm phát thải phù hợp.

carbon-rung-1794052524.jpg
Doanh nghiệp cần chuẩn hóa dữ liệu phát thải, tăng cường phối hợp giữa các bộ phận.

Đáng chú ý, việc hạch toán các giao dịch liên quan đến carbon cũng đặt ra yêu cầu mới. Hạn ngạch được cấp miễn phí, hạn ngạch mua bổ sung và nghĩa vụ nộp trả có thể tác động đến cách ghi nhận tài sản, chi phí và các khoản phải thực hiện của doanh nghiệp. Nếu thiếu hướng dẫn thống nhất, thông tin tài chính giữa các đơn vị và các kỳ báo cáo có thể khó so sánh, ảnh hưởng đến khả năng đánh giá rủi ro và hiệu quả kinh doanh.

Do đó, việc hoàn thiện kế toán carbon cần đi cùng chuẩn hóa phương pháp ghi nhận, tăng cường kiểm soát nội bộ và phối hợp giữa các bộ phận chuyên môn. Dữ liệu phải có hồ sơ chứng minh, khả năng truy xuất và đáp ứng yêu cầu thẩm tra độc lập khi cần thiết.

Từ góc độ quản lý thị trường đến hoạt động của doanh nghiệp, minh bạch dữ liệu và phân định quyền lợi là hai điều kiện có mối liên hệ chặt chẽ. Một thị trường carbon có độ tin cậy không chỉ cần cơ chế giao dịch rõ ràng mà còn phải bảo đảm kết quả giảm phát thải được xác minh, quyền hưởng lợi được xác lập công bằng và các nghĩa vụ tài chính được phản ánh chính xác. Đây sẽ là cơ sở để thị trường carbon phát triển theo hướng bền vững, đồng thời tạo động lực cho cả cộng đồng và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển đổi xanh.

Đăng ký đặt báo