
Gỡ nút thắt từ giống lúa đến vùng nguyên liệu
Tại Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp năm 2026 do UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức ngày 27/8, kiến nghị của doanh nghiệp về phát triển nông nghiệp cho thấy yêu cầu nâng cao giá trị sản xuất đang ngày càng rõ nét. Không chỉ quan tâm đến đầu ra, doanh nghiệp mong muốn được tham gia sâu hơn vào quá trình hình thành vùng nguyên liệu, từ lựa chọn giống, tổ chức sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Ông Đỗ Minh Thủy, Giám đốc Công ty Vina Green, cho rằng Thanh Hóa có diện tích đất trồng lúa lớn, khoảng 230.000 ha mỗi năm. Với lợi thế đó, tỉnh cần giao ngành nông nghiệp phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nghiên cứu, lựa chọn những giống lúa có năng suất, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu chế biến, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Kiến nghị này cho thấy câu chuyện giống lúa hiện nay không còn đơn thuần là lựa chọn loại giống cho năng suất cao. Trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại, giống phải phù hợp với yêu cầu chế biến, thị trường tiêu thụ và điều kiện tổ chức vùng nguyên liệu. Nếu sản xuất vẫn phân tán, thiếu sự đồng nhất về giống và quy trình, doanh nghiệp sẽ khó có nguồn nguyên liệu ổn định, còn người nông dân khó nâng cao giá trị dù sản lượng có thể tăng.
Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là tìm được giống tốt mà phải tổ chức lại sản xuất theo hướng thị trường. Nhu cầu của doanh nghiệp chế biến, tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu và điều kiện sản xuất từng vùng cần được tính đến ngay từ khâu lựa chọn giống. Khi doanh nghiệp tham gia từ đầu, hợp tác xã làm đầu mối tổ chức và người dân sản xuất theo quy trình thống nhất, vùng nguyên liệu mới có thể tạo ra sản phẩm đồng đều, đủ quy mô và có khả năng nâng cao giá trị.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa Lê Văn Tiến, thời gian qua, tỉnh đã mời các chuyên gia, nhà khoa học có kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giống cây trồng, phối hợp nghiên cứu, lựa chọn những giống lúa chất lượng cao, có giá trị để đưa vào sản xuất.
Theo định hướng đang được nghiên cứu, trong giai đoạn 2028-2030, Thanh Hóa có thể từng bước nhân rộng diện tích sản xuất lúa chất lượng cao từ khoảng 50.000 đến 100.000 ha, với sản lượng dự kiến khoảng 500.000-600.000 tấn thóc mỗi năm.
Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ không chỉ là sự mở rộng về diện tích mà còn là cơ hội hình thành những vùng nguyên liệu lớn, gắn sản xuất với doanh nghiệp chế biến và thị trường. Khi đó, lợi thế về quy mô của Thanh Hóa có thể từng bước chuyển thành lợi thế về chất lượng và giá trị gia tăng.
Muốn đạt được mục tiêu này, mối liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân cần được thực chất hơn. Nhà khoa học nghiên cứu theo nhu cầu thị trường; doanh nghiệp tham gia xây dựng vùng nguyên liệu và đầu tư chế biến; hợp tác xã tổ chức sản xuất; còn người nông dân trở thành chủ thể trực tiếp của chuỗi giá trị. Đây là nền tảng để chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp.
Mở đường cho nông nghiệp giảm phát thải
Cùng với giống và vùng nguyên liệu, tín chỉ carbon trong nông nghiệp đang mở ra một hướng giá trị mới. Tại hội nghị, ông Đỗ Minh Thủy cho rằng trong lĩnh vực lâm nghiệp, việc phân chia lợi ích từ bán tín chỉ carbon đã có những bước triển khai tương đối tốt, trong khi lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn vướng mắc. Doanh nghiệp đề nghị tỉnh ban hành hướng dẫn để doanh nghiệp và người dân có thể tiếp cận, thụ hưởng chính sách đối với diện tích lúa được sản xuất theo mô hình phát thải thấp, thân thiện với môi trường.

Kiến nghị này phản ánh một nhu cầu mới của doanh nghiệp và người sản xuất: sản xuất xanh không chỉ nhằm giảm tác động đến môi trường mà cần từng bước trở thành một nguồn giá trị kinh tế. Một cánh đồng được tổ chức theo quy trình giảm phát thải, nếu có hệ thống đo đạc và xác minh phù hợp, có thể tạo ra thêm giá trị bên cạnh sản phẩm nông nghiệp truyền thống.
Tuy nhiên, để đi từ mô hình sản xuất giảm phát thải đến tín chỉ carbon là một quá trình đòi hỏi tiêu chí và quy trình chặt chẽ. Lượng phát thải được cắt giảm phải được đo đạc, báo cáo và thẩm định theo phương pháp phù hợp; quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân cũng cần được xác định rõ. Đây là cơ sở để giá trị giảm phát thải có thể được công nhận và từng bước tiếp cận thị trường.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lê Văn Tiến cho biết, đối với lĩnh vực trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Đề án sản xuất giảm phát thải theo Quyết định số 4024 ngày 29/9/2025. Trên cơ sở đó, Bộ đang giao cơ quan chuyên môn xây dựng, hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá giảm phát thải và hướng dẫn kỹ thuật về đo đạc, báo cáo, thẩm định trong lĩnh vực trồng trọt. Quy trình hiện đang được lấy ý kiến các địa phương trước khi hoàn thiện và triển khai rộng rãi.
Đối với Thanh Hóa, việc chuẩn bị sớm có ý nghĩa quan trọng. Với quy mô sản xuất lúa lớn, tỉnh có điều kiện để lựa chọn những vùng phù hợp xây dựng mô hình sản xuất giảm phát thải, từng bước hình thành vùng nguyên liệu vừa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, vừa tạo nền tảng cho việc phát triển các giá trị xanh trong tương lai.
Nhưng sản xuất xanh chỉ có thể phát triển bền vững khi người nông dân thực sự được hưởng lợi. Nếu việc chuyển đổi làm phát sinh thêm chi phí, yêu cầu thêm nhiều quy trình nhưng không tạo ra đầu ra ổn định hoặc thu nhập cao hơn, rất khó để người dân duy trì phương thức sản xuất mới. Vì vậy, cơ chế phân chia lợi ích giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất cần được tính toán ngay trong quá trình xây dựng mô hình.
Đây cũng là điểm quan trọng để giải quyết đồng thời ba vấn đề đang đặt ra. Giống lúa chất lượng cao cần gắn với vùng nguyên liệu và thị trường; vùng nguyên liệu cần có doanh nghiệp tham gia chế biến, tiêu thụ; còn sản xuất giảm phát thải phải được tổ chức bằng quy trình có thể đo đếm, kiểm chứng và tạo ra lợi ích kinh tế cho người trực tiếp sản xuất.
Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp ngày 27/8 vì vậy không chỉ là nơi tiếp nhận những kiến nghị cụ thể mà còn cho thấy yêu cầu về một cách tiếp cận mới đối với nông nghiệp Thanh Hóa. Doanh nghiệp cần được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, người nông dân cần đầu ra và lợi ích rõ ràng, còn cơ quan quản lý cần tạo hành lang để khoa học, công nghệ, nguồn lực doanh nghiệp và đất đai được kết nối hiệu quả.
Thanh Hóa có lợi thế lớn về quy mô sản xuất, nhưng diện tích và sản lượng sẽ không tự động tạo nên sức cạnh tranh nếu thiếu tổ chức chuỗi giá trị. Khi giống được lựa chọn theo nhu cầu thị trường, vùng nguyên liệu được xây dựng bài bản, sản xuất được chuyển sang hướng giảm phát thải và giá trị mới được phân chia hợp lý, mỗi hecta đất nông nghiệp sẽ có cơ hội tạo ra nhiều giá trị hơn.
Từ một hạt lúa, giá trị khi đó không chỉ nằm ở sản lượng thu hoạch mà còn ở chất lượng, khả năng chế biến, thương hiệu, thị trường và những giá trị môi trường được tạo ra trong quá trình sản xuất. Đây là hướng đi để nông nghiệp Thanh Hóa chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, từ sản xuất đơn thuần sang kinh tế nông nghiệp và từng bước hình thành một nền nông nghiệp xanh, hiện đại, có sức cạnh tranh trong giai đoạn mới.