Sản xuất giữ đà, xuất khẩu vẫn còn nhiều dư địa
Theo ông Ngô Hồng Phong - Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), những tháng đầu năm, sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì tăng trưởng tương đối ổn định. Với cây trồng, vụ Đông Xuân đạt sản lượng lúa hơn 20 triệu tấn, trong khi lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Sản lượng gỗ khai thác tăng 4,5% so với cùng kỳ nhờ công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng được quan tâm. Trong thủy sản, tổng sản lượng đạt gần 5 triệu tấn, tăng 3,6%, với nuôi trồng tiếp tục là một động lực quan trọng.
Trên thị trường quốc tế, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong 7 tháng đạt gần 43 tỷ USD, tương đương khoảng 58% kế hoạch cả năm. Toàn ngành tiếp tục duy trì trạng thái xuất siêu, với mức khoảng 9,2 tỷ USD.

Một số nhóm hàng đang tạo điểm sáng cho bức tranh xuất khẩu. Rau quả đạt trên 3,6 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ; riêng sầu riêng đạt gần 951 triệu USD, tăng hơn 31%. Thủy sản mang về 5,7 tỷ USD, tăng hơn 11%, trong khi hạt tiêu đạt gần 946 triệu USD. Đặc biệt, sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng gần 35%, đạt gần 375 triệu USD.
Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu vẫn chịu tác động lớn từ biến động thị trường. Cà phê dù tăng gần 10% về lượng nhưng kim ngạch giảm hơn 14%, xuống gần 5 tỷ USD do giá xuất khẩu bình quân giảm 22%. Tương tự, lượng gạo xuất khẩu tăng 9,7% nhưng giá trị giảm 2,5% trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu dồi dào và cạnh tranh giá từ các nước xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Thái Lan.
Sự trái chiều giữa lượng và giá trị cho thấy tăng sản lượng chưa đồng nghĩa với tăng hiệu quả kinh tế. Theo ông Ngô Hồng Phong, để hướng tới mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD, ngành nông nghiệp cần tiếp tục cơ cấu lại sản xuất theo hướng nâng chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, đồng thời tháo gỡ các vấn đề về thị trường và phát huy hiệu quả hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cũng lưu ý rằng sản xuất và xuất khẩu đang chịu tác động đồng thời từ giá năng lượng, chi phí logistics, cạnh tranh thương mại và các rào cản kỹ thuật. Vì vậy, kết quả đạt được thời gian qua có sự đóng góp của quá trình phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và hiệp hội.
Để duy trì kết quả trong những tháng còn lại, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ mục tiêu đơn thuần duy trì sản lượng sang cải thiện hiệu quả của từng ngành hàng. Đây cũng là lý do các hiệp hội và doanh nghiệp đang tập trung đề xuất giải pháp xử lý những điểm nghẽn ngay từ vùng nguyên liệu và khâu sản xuất.
Chuỗi giá trị cần được củng cố từ đất đai đến thị trường
Trong lĩnh vực thủy sản, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đề nghị tập trung giải quyết các yếu tố tác động trực tiếp tới năng suất và giá thành như chất lượng con giống, kiểm soát dịch bệnh, chi phí thức ăn và vật tư đầu vào.
Việc phát triển vùng nuôi tập trung, tăng liên kết giữa các chủ thể, số hóa quản lý vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc cũng được đề xuất nhằm nâng khả năng kiểm soát chất lượng và tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến, xuất khẩu.
Đối với khai thác thủy sản, VASEP kiến nghị có hướng dẫn thống nhất về thủ tục cấp mới, cấp lại giấy chứng nhận an toàn thực phẩm tại cảng cá. Cùng với đó, cần kết hợp đầu tư công và huy động nguồn lực xã hội để phát triển các cảng cá đủ điều kiện, vừa tạo thuận lợi cho ngư dân, vừa bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp phục vụ xuất khẩu và góp phần chống khai thác IUU.

Ở ngành rau quả, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT) Nguyễn Thanh Bình cho rằng quy trình cấp mã số vùng trồng vẫn còn phức tạp, trong khi thời gian xử lý kéo dài, nhất là vào thời điểm cao điểm mùa vụ sầu riêng. Theo ông, việc này có thể tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu cũng như quyền lợi của nông dân và doanh nghiệp.
Một vấn đề khác là mối quan hệ giữa chủ thể sở hữu mã số vùng trồng và doanh nghiệp chưa thực sự ổn định. Khi giá cả biến động, tranh chấp, mua bán hoặc giả mạo mã số có thể xảy ra, tạo nguy cơ ảnh hưởng tới uy tín của nông sản Việt Nam.
Ông Nguyễn Thanh Bình đề xuất đơn giản hóa quy trình cấp mã số vùng trồng, số hóa và quản lý dữ liệu trên nền tảng tập trung, đồng thời chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Các quy định mới về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm cũng cần được phổ biến và cập nhật thường xuyên, đi kèm với kiểm soát chặt hoạt động cấp phép, nhập khẩu và sử dụng vật tư nông nghiệp.
Đối với ngành gỗ, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) Ngô Sỹ Hoài cho biết ngành đặt mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 18,5 tỷ USD trong năm, trong điều kiện thuận lợi có thể đạt và vượt 19 tỷ USD.
Để đạt mục tiêu, ngành gỗ cần tiếp tục giữ các thị trường chủ lực, nhất là Hoa Kỳ, nhưng đồng thời phải nâng tỷ trọng giá trị gia tăng thay vì chỉ chạy theo sản lượng. Ông Ngô Sỹ Hoài đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao tăng cường trao đổi với các cơ quan, hiệp hội của Hoa Kỳ, chủ động cung cấp thông tin về lao động, môi trường và nguồn nguyên liệu rừng trồng của Việt Nam, qua đó bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp trước các biện pháp thuế và phòng vệ thương mại bất hợp lý.
Từ góc độ kinh tế, TS. Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, cho rằng ngành nông nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận nếu muốn tạo ra dư địa tăng trưởng dài hạn. Theo ông Thuận, tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 12,34% năm 2024 xuống 11,2% năm 2025 và dự kiến khoảng 10,38% năm 2026. Vì vậy, nếu tiếp tục dựa vào mở rộng diện tích và sản lượng, khả năng tạo thêm giá trị sẽ ngày càng hạn chế.
TS. Phạm Viết Thuận cho rằng cần xây dựng không gian phát triển mới dựa trên kinh tế nông nghiệp, kinh tế tuần hoàn và các chuỗi giá trị đa tầng. Trong đó, đất đai là một trong những vấn đề cần được tháo gỡ trước tiên. Dù Luật Đất đai đã mở thêm cơ chế tích tụ đất nông nghiệp, việc triển khai tại một số địa phương vẫn chưa đủ linh hoạt, khiến doanh nghiệp gặp khó khi đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao hoặc chuyển đổi mô hình sản xuất.
Nguồn vốn cũng là một điểm nghẽn đáng chú ý. Việc tín dụng vẫn chủ yếu dựa trên tài sản thế chấp khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, trong khi những tài sản như nhà kính, chuồng trại, cơ sở chế biến trên đất nông nghiệp chưa được định giá tương xứng.
Cùng với đó, chi phí logistics, hạ tầng kết nối và hệ thống phân phối nhiều tầng đang làm giảm hiệu quả của chuỗi. Để cải thiện, cần chuyển từ hỗ trợ đơn thuần cho sản xuất sang hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị; đồng thời hoàn thiện cơ chế tích tụ đất, đổi mới cách đánh giá tín dụng theo dự án và dòng tiền, đầu tư vào kho lạnh, logistics, trung tâm chế biến và truy xuất nguồn gốc.
"Chỉ khi các điểm nghẽn về thể chế, tín dụng, dữ liệu và liên kết chuỗi được tháo gỡ đồng bộ, nông nghiệp Việt Nam mới có thể mở rộng không gian phát triển, nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng được những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu", TS. Phạm Viết Thuận nhấn mạnh.
Ở phía doanh nghiệp, ông Nguyễn Mạnh Hùng - Tổng giám đốc Nafoods Group nhận định yêu cầu lớn nhất hiện nay là nâng khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Các thị trường như châu Âu, Mỹ không chỉ kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật mà còn ngày càng chú trọng truy xuất nguồn gốc, phát thải và môi trường. Thậm chí, hàm lượng Nickel trong nông sản cũng có thể trở thành yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu. "Muốn đi vào phân khúc cao cấp, nông sản Việt Nam không chỉ ngon mà phải đáp ứng được hệ thống tiêu chuẩn quốc tế và tạo được niềm tin với người tiêu dùng", ông Hùng nói.
Ông Hùng cũng dẫn trường hợp Nafoods từng phải đóng cửa một nhà máy sau nhiều năm đầu tư do vùng nguyên liệu bị phá vỡ khi nông dân bán sản phẩm cho thương lái với giá cao hơn trong ngắn hạn. Theo ông, câu chuyện này cho thấy doanh nghiệp khó đầu tư dài hạn nếu liên kết với người sản xuất thiếu ổn định và chưa có cơ chế phân chia lợi ích phù hợp.
Chuyển đổi số cũng cần được triển khai thực chất hơn. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, dữ liệu chỉ có giá trị khi nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cùng cập nhật, chia sẻ và nhận thấy lợi ích trực tiếp. Việc số hóa đơn thuần hồ sơ hoặc truy xuất nguồn gốc theo hình thức sẽ khó tạo ra thay đổi căn bản trong sản xuất.

Từ những vấn đề trên, yêu cầu đặt ra không chỉ là hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn trước mắt mà phải tạo dựng môi trường thuận lợi cho đầu tư dài hạn. Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng, doanh nghiệp phải giữ vai trò trung tâm trong quá trình này.
Với mục tiêu tăng trưởng tối thiểu 4% và xuất khẩu vượt 74 tỷ USD, dư địa của ngành nông nghiệp vì thế sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng tăng trưởng. Khi những nút thắt về đất đai, tín dụng, hạ tầng, dữ liệu và liên kết được xử lý đồng bộ, doanh nghiệp có thêm điều kiện đầu tư dài hạn, còn nông sản Việt Nam có cơ hội chuyển từ lợi thế về sản lượng sang lợi thế về giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.