Nhập siêu tăng, doanh nghiệp Việt đối mặt bài toán nâng cao năng lực sản xuất

Nửa đầu tháng 8/2026, xuất khẩu tăng 6,11% trong khi nhập khẩu giảm 2,43%, đưa mức nhập siêu trong kỳ xuống khoảng 1,5 tỷ USD. Tuy nhiên, lũy kế đến giữa tháng 8, Việt Nam vẫn nhập siêu 21,88 tỷ USD, đặt ra yêu cầu nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước.
nhap-sieu-1787932030.webp
Xuất khẩu tăng tốc, doanh nghiệp Việt cần nâng tỷ lệ giá trị nội địa.

Xuất khẩu khởi sắc, nhưng độ phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu vẫn lớn

Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong nửa đầu tháng 8 đạt khoảng 52,33 tỷ USD, tăng 1,54% so với kỳ 1 tháng 7. Tính đến ngày 15/8, quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam đã lên 712,72 tỷ USD, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước.

So với kỳ trước, cán cân thương mại trong nửa đầu tháng 8 đã có chuyển biến tích cực hơn. Xuất khẩu đạt 25,41 tỷ USD, tăng 6,11%, trong khi nhập khẩu đạt 26,91 tỷ USD, giảm 2,43%. Nhờ đó, mức nhập siêu trong kỳ chỉ còn khoảng 1,5 tỷ USD, thấp hơn đáng kể so với kỳ 1 tháng 7. Tuy nhiên, sự cải thiện này chưa thể được nhìn đơn thuần qua mức tăng, giảm của tổng kim ngạch. Cơ cấu hàng hóa mới là yếu tố cho thấy rõ hơn tình trạng sản xuất và mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn cung bên ngoài.

Đáng chú ý, xuất khẩu trong kỳ tăng mạnh chủ yếu nhờ các nhóm hàng điện tử và điện thoại. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt hơn 7,32 tỷ USD, tăng 11,79%, đóng góp khoảng 772,81 triệu USD vào mức tăng xuất khẩu. Điện thoại và linh kiện cũng ghi nhận kim ngạch khoảng 3,66 tỷ USD, tăng tới 22%, tương ứng tăng gần 659,86 triệu USD.

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu chính những nhóm hàng này cũng đi lên. Nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 12,73 tỷ USD, tăng 2,99%, tương ứng tăng 369,08 triệu USD. Điện thoại và linh kiện tăng 20,34%, tương ứng khoảng 94,62 triệu USD.

Diễn biến đồng thời ở hai chiều cho thấy một khả năng đáng chú ý: lượng linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu đang được đưa vào sản xuất để đáp ứng đơn hàng xuất khẩu, hoặc doanh nghiệp đang chủ động tăng dự trữ đầu vào cho giai đoạn cao điểm cuối năm. Vì thế, việc tổng nhập khẩu giảm 2,43% trong nửa đầu tháng 8 chưa đồng nghĩa với nhu cầu sản xuất suy yếu. Một số nhóm nguyên liệu, nhiên liệu giảm mạnh đã kéo kim ngạch nhập khẩu đi xuống, trong khi những đầu vào có liên quan trực tiếp tới ngành điện tử và điện thoại vẫn tăng.

Chẳng hạn, nhập khẩu than các loại giảm 24,47%, tương ứng khoảng 137,64 triệu USD; dầu thô giảm 21,98%, tương ứng 89,28 triệu USD; khí đốt hóa lỏng cũng giảm 4,75%. Trong khi đó, nhập khẩu xăng dầu các loại tăng tới 75,32%, tương ứng khoảng 275,44 triệu USD.

Sự trái chiều này cho thấy biến động nhập khẩu năng lượng còn chịu tác động bởi cơ cấu nguồn cung, giá năng lượng quốc tế và nhu cầu của từng ngành, thay vì chỉ phản ánh sức mua trong nước. Nhìn rộng hơn, điều đáng chú ý trong nửa đầu tháng 8 không phải chỉ là nhập khẩu giảm mà là dòng nhập khẩu đang được phân bổ như thế nào. Khi các nhóm đầu vào quan trọng của ngành điện tử tăng cùng với xuất khẩu thành phẩm, nhập khẩu có thể đang đóng vai trò là mắt xích của một chu kỳ sản xuất mới.

Doanh nghiệp nội địa cần bước sâu hơn vào chuỗi giá trị

Đằng sau mức nhập siêu 21,88 tỷ USD đến giữa tháng 8 còn nổi lên sự khác biệt rất lớn giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Trong nửa đầu tháng 8, khu vực FDI nhập khẩu khoảng 20,77 tỷ USD, giảm 0,97%, trong khi xuất khẩu đạt 20,66 tỷ USD, tăng 7,54%. Tính lũy kế đến giữa tháng 8, khu vực FDI vẫn xuất siêu hơn 7 tỷ USD, còn khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu khoảng 28,88 tỷ USD, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2025.

Khoảng cách này phản ánh sự khác biệt về cấu trúc sản xuất giữa hai khu vực. Các doanh nghiệp FDI thường tham gia trực tiếp vào những chuỗi cung ứng phục vụ xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu đáng kể máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và sản phẩm trung gian để phục vụ sản xuất, đầu tư và các dự án quy mô lớn.

nhap-khau-may-moc-1787932138.jpg
FDI đẩy mạnh xuất khẩu, doanh nghiệp nội địa vẫn phụ thuộc đầu vào nhập khẩu.

Trong bối cảnh đầu tư công và các dự án trọng điểm có thể được đẩy nhanh trong những tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu của doanh nghiệp nội địa có khả năng tiếp tục tăng. Do đó, nhập siêu của khu vực này không nhất thiết đồng nghĩa với tín hiệu tiêu cực nếu nguồn lực nhập khẩu thực sự được chuyển thành năng lực sản xuất mới.

Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Bùi Minh Giáp cho rằng độ mở của nền kinh tế Việt Nam hiện ở mức rất cao, khoảng 170% GDP. Độ mở lớn giúp Việt Nam tận dụng tốt các dòng chảy thương mại toàn cầu nhưng đồng thời cũng khiến nền kinh tế nhạy cảm hơn trước biến động bên ngoài.

Theo ông Giáp, nhập khẩu tăng phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất nhưng cũng cho thấy Việt Nam còn phụ thuộc đáng kể vào máy móc, nguyên vật liệu và linh kiện từ nước ngoài. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng phần giá trị được giữ lại trong nước là yêu cầu quan trọng.

Thực tế, một sản phẩm điện thoại, máy tính hay thiết bị điện tử xuất khẩu từ Việt Nam có thể đóng góp hàng tỷ USD vào kim ngạch thương mại, nhưng nếu phần lớn linh kiện và nguyên liệu được nhập khẩu thì giá trị thực tế ở lại nền kinh tế sẽ thấp hơn nhiều so với con số xuất khẩu. Đây cũng là lý do không nên đánh giá chất lượng thương mại chỉ dựa trên việc cán cân đang xuất siêu hay nhập siêu trong một thời điểm nhất định.

Theo Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS), xuất khẩu năm 2026 có thể tăng 17,5-19,8%, trong khi nhập khẩu tăng 24-26,6%. Nếu kịch bản này xảy ra, cán cân thương mại cả năm có thể thâm hụt khoảng 5-7 tỷ USD. MBS cho rằng nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu xuất phát từ nhu cầu máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ phục vụ mở rộng sản xuất, đầu tư hạ tầng; xu hướng tăng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ nhằm thu hẹp thặng dư thương mại song phương và chi phí vận chuyển cao do giá năng lượng.

Dù vậy, tốc độ nhập khẩu có thể chậm lại vào cuối năm khi nguyên liệu, linh kiện được đưa vào sản xuất và chuyển hóa thành hàng hóa trong giai đoạn cao điểm xuất khẩu. Theo cách nhìn này, nhập siêu hiện tại phần nào có thể phản ánh độ trễ giữa thời điểm nhập khẩu đầu vào và thời điểm sản phẩm được xuất khẩu.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn từng lưu ý rằng nếu tư liệu sản xuất nhập khẩu không được chuyển hóa kịp thời thành hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, diễn biến này có thể tác động tới tăng trưởng, thị trường ngoại hối và tỷ giá.

Trong bối cảnh GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% và nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm nay, đây là vấn đề càng cần được theo dõi sát. Nhập khẩu phục vụ đầu tư và sản xuất có thể tạo nền tảng cho tăng trưởng tương lai. Nhưng nếu nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài mà doanh nghiệp nội địa không nâng được năng lực tham gia chuỗi giá trị, kim ngạch xuất khẩu tăng sẽ chưa phản ánh đầy đủ sự cải thiện của nội lực.

Ủy viên chuyên trách Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội Phan Đức Hiếu từng chỉ ra rằng nhập siêu có thể vừa là chỉ báo của sự phục hồi chu kỳ sản xuất, vừa là lời nhắc nhở về những điểm yếu trong chuỗi cung ứng nội địa.

Trong khi đó, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam Đỗ Thị Thúy Hương cho rằng cần thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tự động hóa và ứng dụng AI, đồng thời tăng kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn FDI.

Đây có thể là hướng đi quan trọng để thay đổi chất lượng tăng trưởng xuất khẩu. Khi doanh nghiệp Việt có khả năng cung cấp nhiều hơn nguyên liệu, linh kiện và dịch vụ cho các tập đoàn lớn, một đơn hàng xuất khẩu sẽ tạo ra tác động lan tỏa rộng hơn tới nền kinh tế, thay vì phần lớn giá trị nằm ở khâu lắp ráp cuối cùng.

Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào Mariam J. Sherman cũng cho rằng Việt Nam cần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, củng cố khu vực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị tạo ra trong nền kinh tế để duy trì tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Từ góc nhìn này, mục tiêu của chính sách thương mại không nên chỉ là nhanh chóng đưa cán cân trở lại trạng thái xuất siêu. Điều quan trọng hơn là biến mỗi chu kỳ nhập khẩu thành một bước nâng cấp năng lực sản xuất trong nước.

Việt Nam không nhất thiết phải giảm nhập khẩu bằng mọi giá, bởi một nền kinh tế đang mở rộng đầu tư và sản xuất vẫn cần máy móc, công nghệ, nguyên vật liệu từ bên ngoài. Bài toán căn cơ là làm sao để sau mỗi dòng hàng nhập khẩu, nền kinh tế có thêm năng lực sản xuất, doanh nghiệp nội địa có thêm cơ hội tham gia chuỗi cung ứng và tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước ngày càng cao.

Khi đó, nhập siêu không chỉ còn là một con số trên cán cân thương mại mà trở thành thước đo để nhìn vào chất lượng tăng trưởng: Việt Nam nhập khẩu bao nhiêu, chuyển hóa được bao nhiêu thành sản phẩm và cuối cùng giữ lại được bao nhiêu giá trị.

Đăng ký đặt báo