
Kiểm soát nguy cơ từ khâu sản xuất, tăng trách nhiệm hậu kiểm
Sau 16 năm thực thi, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã bộc lộ những hạn chế trước sự phát triển của thị trường và các phương thức kinh doanh mới. Tình trạng phân tán chức năng giữa các cơ quan quản lý, dữ liệu thiếu liên thông và những khoảng trống trong kiểm soát thực phẩm trên môi trường trực tuyến đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách tiếp cận, từ xử lý vi phạm sang nhận diện, ngăn ngừa nguy cơ ngay từ đầu.
Ngày 24/10, Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, trên cơ sở Tờ trình số 915/TTr-CP ngày 16/10/2026. Dự thảo gồm 9 chương, 74 điều, tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả giám sát và khắc phục những bất cập trong quá trình thực thi pháp luật hiện hành.

Theo Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) Chu Quốc Thịnh, dự thảo xác định 4 nhóm chính sách trọng tâm, gồm quản lý an toàn thực phẩm dựa trên kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng; cải cách phương thức quản lý và kiểm tra thực phẩm trên thị trường; số hóa, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông; nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn đường phố và các loại hình cung cấp suất ăn tập thể.
Định hướng xuyên suốt là xác định nguy cơ có thể xuất hiện ở đâu, trách nhiệm thuộc về chủ thể nào và cơ quan chức năng cần thực hiện những biện pháp gì để truy xuất, khoanh vùng, xử lý nhanh khi xảy ra sự cố. Cùng với đó, bộ máy quản lý nhà nước được định hướng hoàn thiện theo hướng thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương, hạn chế tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ.
Một trong những thay đổi đáng chú ý của dự thảo là mở rộng kiểm soát an toàn thực phẩm xuyên suốt chuỗi cung ứng, bắt đầu từ sản xuất ban đầu thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm sau khi đưa ra thị trường. Các khâu trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác và giết mổ đều được đặt trong phạm vi quản lý, cùng với hoạt động sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, phân phối và kinh doanh.
Việc kiểm soát cũng được mở rộng tới những yếu tố đầu vào có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực phẩm như giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia và chất hỗ trợ chế biến. Qua đó, các nguy cơ về tồn dư hóa chất, tác nhân gây ô nhiễm và điều kiện sản xuất không bảo đảm có thể được phát hiện sớm hơn.
Theo TS. Chu Quốc Thịnh, cách tiếp cận này góp phần giải quyết tình trạng chồng chéo chức năng giữa Bộ Y tế với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong quản lý khâu sản xuất ban đầu, đồng thời bảo đảm an toàn thực phẩm được kiểm soát liên tục từ đầu vào đến khi sản phẩm tới tay người tiêu dùng.
Thay vì kiểm tra dàn trải, dự thảo đề xuất áp dụng phương pháp phân tích nguy cơ theo hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (Codex). Trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của từng nhóm sản phẩm, cơ quan quản lý có thể ưu tiên nguồn lực cho những mặt hàng, cơ sở tiềm ẩn nguy cơ cao, kết hợp giám sát, lấy mẫu và kiểm tra trong quá trình lưu thông.
Song song với đó, phương thức quản lý sản phẩm được điều chỉnh theo hướng giảm thủ tục tiền kiểm đối với phần lớn thực phẩm và tăng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh. Theo dự thảo, đa số sản phẩm thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng theo hình thức tự công bố và chịu sự kiểm tra sau khi lưu thông trên thị trường. Sau khi nộp hồ sơ theo quy định, tổ chức, cá nhân có thể sản xuất, kinh doanh sản phẩm và phải chịu trách nhiệm về chất lượng, an toàn thực phẩm.
Đối với nhóm sản phẩm có tính chất đặc thù, liên quan đến khuyến cáo sức khỏe cộng đồng, có quy trình sản xuất phức tạp hoặc dành cho những đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người bệnh, dự thảo tiếp tục áp dụng cơ chế đăng ký bản công bố sản phẩm.
Danh mục sản phẩm thuộc diện đăng ký được xây dựng theo hướng hạn chế phát sinh thêm thủ tục, cơ bản kế thừa các quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP. Những mặt hàng không tiêu chuẩn hóa, có vòng đời ngắn như rau, củ, quả và thực phẩm tươi sống được định hướng miễn công bố sản phẩm, miễn đăng ký bản công bố, phù hợp với đặc điểm thực tế.
Việc giảm yêu cầu tiền kiểm đi kèm với cơ chế hậu kiểm chặt chẽ hơn. Dự thảo bổ sung quy định về đối tượng, nguyên tắc, biện pháp, tần suất kiểm tra và trách nhiệm của đoàn kiểm tra; đồng thời quy định các biện pháp xử lý như thu hồi giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm, gỡ bỏ hồ sơ công bố tiêu chuẩn, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoặc thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định.
Để tránh ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dự thảo đưa ra quy định chuyển tiếp đối với những sản phẩm đã được phê duyệt theo pháp luật hiện hành. Trong thời hạn tối đa 36 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực, các cơ sở phải hoàn thiện hồ sơ và cập nhật thông tin sản phẩm trên hệ thống dữ liệu chuyên ngành về an toàn thực phẩm.
Liên thông dữ liệu, thống nhất đầu mối và mở rộng trách nhiệm trên môi trường số
Bên cạnh đổi mới phương thức kiểm tra, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia được xác định là nền tảng để nâng cao năng lực quản lý. Theo đề xuất, hệ thống sẽ kết nối thông tin từ Trung ương đến địa phương và giữa các bộ, ngành, bao gồm dữ liệu về cơ sở sản xuất, kinh doanh, vòng đời sản phẩm, tổ chức thử nghiệm, kết quả kiểm tra, giám sát và các vụ ngộ độc thực phẩm.

Việc tập hợp dữ liệu theo một hệ thống thống nhất sẽ hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, phân tích nguy cơ, cảnh báo sớm và khoanh vùng sản phẩm khi xảy ra sự cố. Thông tin về lịch sử tuân thủ, kết quả kiểm tra và những vi phạm đã được ghi nhận cũng tạo cơ sở để cơ quan chức năng xác định đối tượng cần ưu tiên giám sát, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào những đợt kiểm tra riêng lẻ.
Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan, dự thảo hướng tới tăng cường khả năng tiếp cận thông tin về vi phạm và sự cố an toàn thực phẩm của người tiêu dùng thông qua hệ thống dữ liệu quốc gia, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch trong quản lý.
Để dữ liệu phát huy hiệu quả, dự thảo đồng thời đề xuất kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước. Bộ Y tế được định hướng là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý an toàn thực phẩm; UBND các cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên địa bàn theo hướng có đầu mối rõ ràng. Theo phương án được nêu trong tài liệu xây dựng chính sách, Chi cục An toàn thực phẩm được định hướng thực hiện chức năng quản lý ở cấp tỉnh; tại cấp xã, cơ quan chuyên môn về văn hóa, xã hội thuộc UBND cấp xã đảm nhiệm vai trò đầu mối, với công chức có chuyên môn phụ trách.
Các bộ, ngành vẫn thực hiện nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công, bao gồm quản lý an toàn thực phẩm trong sản xuất ban đầu, kiểm soát thực phẩm xuất nhập khẩu, phòng chống thực phẩm giả, gian lận thương mại và xử lý vi phạm. Chính quyền địa phương được tăng cường phân cấp, phân quyền để chủ động kiểm tra, giám sát, nhất là đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ.
Một nội dung khác được chú trọng là quản lý an toàn thực phẩm trên sàn thương mại điện tử và các nền tảng số. Dự thảo xác định trách nhiệm của người bán, đơn vị vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian và cơ sở cung cấp dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến. Các chủ thể tham gia kinh doanh phải bảo đảm điều kiện an toàn theo quy định, đồng thời tạo cơ sở xác định trách nhiệm khi phát sinh vi phạm hoặc sự cố.
Đối với thức ăn đường phố, cơ sở dịch vụ ăn uống và đơn vị cung cấp suất ăn tập thể, dự thảo đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện chế biến, bảo quản và trách nhiệm của người kinh doanh. Quy định cũng bao quát các bếp ăn tập thể không nhằm mục đích kinh doanh, trong đó có bếp ăn của lực lượng công an, quân đội, nhằm bảo đảm an toàn cho người sử dụng.

Bộ Y tế có trách nhiệm xây dựng, sửa đổi, bổ sung và trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với nhà hàng, cơ sở dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể và thức ăn đường phố. Trong khi đó, chính quyền cấp tỉnh, cấp xã thực hiện quản lý, giám sát các cơ sở thuộc địa bàn theo thẩm quyền, đặc biệt tại chợ và những loại hình kinh doanh quy mô nhỏ.
Dự thảo cũng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội ngành hàng, cộng đồng và người dân tham gia giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Một số nội dung khác được rà soát nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, điều chỉnh thuật ngữ chuyên môn và hoàn thiện cơ sở áp dụng biện pháp quản lý đối với từng nhóm sản phẩm.
Theo Chính phủ, dự án Luật được xây dựng trên cơ sở lấy ý kiến các hiệp hội, ngành hàng và tổ chức quốc tế theo những quy định liên quan của Tổ chức Thương mại thế giới và Tổ chức Y tế thế giới. Nếu được thông qua, các quy định mới được kỳ vọng tạo chuyển biến trong quản lý an toàn thực phẩm, từ kiểm soát từng khâu riêng lẻ sang giám sát toàn bộ chuỗi cung ứng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các chủ thể tham gia thị trường.