Thu hẹp khoảng cách giữa chính sách hỗ trợ và thực tiễn doanh nghiệp

Việt Nam đặt mục tiêu phát triển 5 triệu chủ thể kinh doanh, song khoảng cách giữa chính sách hỗ trợ và khả năng thụ hưởng thực tế vẫn là thách thức lớn. Từ những bất cập trong liên kết nghiên cứu với thị trường đến tâm lý e ngại thủ tục, rủi ro thuế và hạn chế về quản trị, việc khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, thực chất hơn.
thuc-tien-doanh-nghiep-1792856636.jpeg
Gỡ tâm lý e ngại, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới công nghệ.

Từ chính sách khoa học, công nghệ đến bài toán thương mại hóa

Tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ ngày 23/10, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, hiệu quả triển khai vẫn chưa tương xứng với nguồn lực và kỳ vọng, đặc biệt trong việc đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.

Theo Phó Thủ tướng, tư duy quản lý đang chuyển từ kiểm soát quy trình đầu vào sang đánh giá kết quả đầu ra, đồng thời từng bước chấp nhận rủi ro và xây dựng hệ sinh thái lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Dù vậy, mối liên kết giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và thị trường còn lỏng lẻo, khiến không ít nhiệm vụ khoa học chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn.

Quang cảnh hội nghị.
Quang cảnh hội nghị.

Số liệu giai đoạn 2021-2025 cho thấy, chỉ khoảng 12% nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia có sự tham gia của doanh nghiệp; tại địa phương, tỷ lệ này vào khoảng 11%. Năm 2023, mức độ tham gia của doanh nghiệp vào việc hình thành các quỹ khoa học và công nghệ để tài trợ nghiên cứu chỉ đạt khoảng 6%.

Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp Việt Nam hiện tương đương 0,3% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức 2,1% tại Trung Quốc và 4,2% tại Hàn Quốc. Sự chênh lệch còn thể hiện ở nguồn nhân lực khi chỉ có 333 nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ làm việc trong doanh nghiệp, trong khi khoảng 21.000 người đang công tác tại các viện nghiên cứu, trường đại học.

Hoạt động sở hữu trí tuệ và giao dịch công nghệ cũng chưa tạo được sự kết nối tương xứng giữa nghiên cứu và thương mại. Trong giai đoạn 2021-2025, doanh nghiệp Việt Nam được cấp hơn 700 bằng sáng chế, còn doanh nghiệp nước ngoài được cấp khoảng 24.000 bằng, cao gấp khoảng 35 lần. Trên hơn 20 sàn giao dịch khoa học và công nghệ, khoảng 62.000 công nghệ được chào bán nhưng chỉ có 750 nhà đầu tư, doanh nghiệp tìm hiểu và phát sinh 72 giao dịch.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đặt vấn đề: "Cần trả lời rõ vì sao doanh nghiệp chưa mặn mà với kết quả nghiên cứu của viện, trường; vì sao những kết quả được đầu tư công sức, nguồn lực chưa được doanh nghiệp ứng dụng và chưa tiếp cận thị trường".

Thực trạng này càng đáng lưu ý khi Việt Nam đang hướng tới mục tiêu 5 triệu chủ thể kinh doanh, trong khi sau 40 năm đổi mới, cả nước mới có khoảng 1 triệu doanh nghiệp. Tại Hội thảo Giới thiệu chính sách địa phương thu hút nhà đầu tư, chuyên gia cố vấn, doanh nhân khoa học, công nghệ, doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo, TS. Đinh Việt Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp quốc gia, cho biết Trung Quốc có 58 triệu doanh nghiệp, Mỹ có 36 triệu, Hàn Quốc có 7,7 triệu và Nhật Bản có 2,5 triệu. Singapore với khoảng 6 triệu dân có 371.000 doanh nghiệp.

nang-cao-nang-luc-quan-tri-va-suc-chong-chiu-thi-truong-la-nen-tang-giup-doanh-nghiep-phat-trien-ben-vung-1792856778.jpg
Nâng cao năng lực quản trị và sức chống chịu thị trường là nền tảng giúp doanh nghiệp phát triển bền vững.

Áp lực không chỉ nằm ở số lượng. Năm 2025, Việt Nam có 195.000 doanh nghiệp thành lập mới nhưng 227.000 doanh nghiệp đóng cửa. Trong 10 tháng đầu năm 2026, khoảng 148.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường, trong khi số đóng cửa lên tới 180.000. Những con số này cho thấy khả năng duy trì hoạt động, tích lũy nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề không thể tách rời mục tiêu mở rộng khu vực doanh nghiệp.

Khảo sát 1.736 chủ thể kinh doanh do TS. Đinh Việt Hòa dẫn cho thấy 92% nhà sáng lập chưa từng học quản trị kinh doanh trước khi thành lập doanh nghiệp; 88,9% cho rằng đào tạo quản trị dành cho nhà sáng lập là rất cấp thiết. Đáng chú ý, trên 99% doanh nghiệp Việt Nam vẫn do những người sáng lập ban đầu trực tiếp điều hành, chưa thực hiện thành công quá trình chuyển giao cho thế hệ kế tiếp. Do đó, muốn doanh nghiệp phát triển bền vững, ngoài nguồn lực công nghệ, cần nâng cao năng lực quản trị, khả năng tổ chức sản xuất và sức chống chịu trước biến động thị trường.

Đưa chính sách đến đúng đối tượng, tháo gỡ tâm lý e ngại

cong-nghe-1792856869.webp
Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tận dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ dù cơ chế ưu đãi ngày càng mở rộng.

Một nghịch lý đang tồn tại là các cơ chế hỗ trợ ngày càng được mở rộng nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chủ động tiếp cận. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, doanh nghiệp được Nhà nước đặt hàng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu có thể được hỗ trợ 100% chi phí. Với hoạt động thử nghiệm sản phẩm lần đầu, doanh nghiệp phát triển công nghệ chiến lược được hỗ trợ toàn bộ chi phí, trong khi doanh nghiệp phát triển công nghệ cao được hỗ trợ 70%.

Các trung tâm công nghệ cao, công nghệ chiến lược được Bộ Khoa học và Công nghệ công nhận còn được miễn tiền thuê đất. Doanh nghiệp khởi nghiệp đáp ứng điều kiện được miễn chi phí sử dụng cơ sở nghiên cứu, thử nghiệm do Nhà nước đầu tư trong ba năm đầu và giảm 50% trong thời gian tiếp theo.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, truyền thông chính sách còn hạn chế, khiến doanh nghiệp và nhà khoa học chưa nắm bắt đầy đủ những cơ chế đang được triển khai. Ông cho rằng cần thay đổi cách tổ chức nghiên cứu, chuyển từ những đề xuất chủ yếu xuất phát từ viện, trường sang cơ chế đặt hàng của Nhà nước và doanh nghiệp, gắn nhiệm vụ với sản phẩm đầu ra cụ thể.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực thủy sản, cơ quan quản lý cần xác định những công nghệ Việt Nam đã làm chủ trong toàn chuỗi giá trị, từ con giống, thức ăn, vaccine phòng bệnh đến chế biến và tận dụng phụ phẩm. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ sở nghiên cứu có thể phối hợp giải quyết từng bài toán, tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.

Ở góc độ thực thi, ông Hoàng Ngọc Nhân, Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Ninh Bình đã triển khai nhiều cơ chế đặc thù nhằm thu hút nguồn lực đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Dù vậy, khoảng cách giữa chính sách được ban hành và khả năng thụ hưởng của doanh nghiệp vẫn đáng kể, trong đó năng lực tổ chức thực hiện là yếu tố cần được cải thiện.

Bà Nguyễn Thị Hương Liên, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa mang tâm lý "sợ sai", nhất là khi sử dụng các ưu đãi liên quan đến hoạt động khoa học, công nghệ. Doanh nghiệp có thể lúng túng trong hạch toán chi phí nghiên cứu, phân bổ tiền lương, xác định thời gian làm việc của nhân sự tham gia đề tài hoặc chuẩn bị hồ sơ giải trình khi cơ quan thuế kiểm tra.

Trong khi đó, các doanh nghiệp quy mô nhỏ thường thiếu bộ phận pháp chế chuyên sâu, khó theo dõi hệ thống văn bản và xác định chính xác nhóm chính sách mình đủ điều kiện thụ hưởng. Khi chi phí tìm hiểu, hoàn thiện hồ sơ quá lớn và rủi ro bị xử phạt chưa được giải đáp rõ ràng, việc đứng ngoài cơ chế hỗ trợ trở thành lựa chọn an toàn của một bộ phận doanh nghiệp.

Để giải quyết vấn đề, Hiệp hội Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam đề xuất thành lập nhóm công tác kết nối chuyên viên Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, đại diện các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương cùng lãnh đạo hiệp hội. Nhóm sẽ đóng vai trò đầu mối phản ứng nhanh, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý vướng mắc ngay tại địa bàn.

Bên cạnh đó, nền tảng số tập hợp câu hỏi thường gặp và nội dung trả lời đã được cán bộ chuyên môn thẩm định đang được xây dựng. Theo VST, nền tảng phối hợp với chuyên viên của Cục và Công ty Simax đã hoàn thiện khoảng 70% khối lượng công việc. Hệ thống được định hướng tích hợp danh mục sáng chế, công trình nghiên cứu nhằm giúp doanh nghiệp vừa tra cứu chính sách, vừa tìm kiếm công nghệ phù hợp.

Kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu chuyển mạnh từ giao các đề tài đơn lẻ sang đặt hàng nhiệm vụ gắn với sản phẩm đầu ra, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của đơn vị thực hiện. Trong giai đoạn 2026-2027, mục tiêu đặt ra là ít nhất 30-50% đề tài nghiên cứu xuất phát từ đặt hàng của doanh nghiệp, đi kèm hợp tác và chia sẻ nguồn lực giữa các bên.

Bộ Khoa học và Công nghệ được giao xây dựng bản đồ năng lực các cơ sở nghiên cứu trên cả nước, rà soát chương trình nghiên cứu quốc gia, hoàn thiện hệ thống phòng thí nghiệm dùng chung và thúc đẩy Sàn giao dịch khoa học và công nghệ quốc gia. Đồng thời, các chương trình đào tạo quản trị cần được thiết kế theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, từ kiến thức thuế, pháp lý, tài chính khi khởi sự đến quản trị nhân sự, huy động vốn và xây dựng đội ngũ kế cận khi mở rộng.

Mục tiêu 5 triệu chủ thể kinh doanh sẽ khó đạt hiệu quả thực chất nếu doanh nghiệp chỉ tăng về số lượng mà thiếu điều kiện phát triển lâu dài. Chính sách cần đi cùng hướng dẫn minh bạch, thủ tục dễ tiếp cận, đầu mối hỗ trợ rõ ràng và cơ chế kết nối nghiên cứu với thị trường. Khi những rào cản này được tháo gỡ, nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mới có thể chuyển hóa thành năng suất, sức cạnh tranh và động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Đăng ký đặt báo