
Quản lý môi chất lạnh toàn diện, hướng tới mục tiêu giảm phát thải
Việc kiểm soát các chất làm suy giảm tầng ô-dôn đang dần chuyển từ yêu cầu tuân thủ những cam kết quốc tế sang một nhiệm vụ gắn với chuyển đổi công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển kinh tế xanh. Trong bối cảnh nhu cầu làm mát ngày càng tăng, Việt Nam cần đồng thời giảm tác động của môi chất lạnh đến khí hậu, nâng cao hiệu suất thiết bị và hạn chế thất thoát các chất được kiểm soát trong quá trình sử dụng.
Ngày 23/10, tại TP.HCM, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo “Phổ biến các quy định pháp luật và Kế hoạch quốc gia quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal”. Sự kiện tập trung cập nhật chính sách, hướng dẫn thực hiện các quy định hiện hành và giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ quản lý vòng đời các chất được kiểm soát tại Việt Nam.
Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal từ năm 1994, đồng thời phê chuẩn Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019. Theo thống kê của Ban Thư ký Ô-dôn, tính đến tháng 8/2026, các hoạt động quản lý và loại trừ những chất thuộc diện kiểm soát tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa phát thải tương đương khoảng 260 triệu tấn CO₂. Kết quả này cho thấy việc bảo vệ tầng ô-dôn không chỉ mang lại lợi ích đối với môi trường mà còn đóng góp thiết thực vào nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu.
Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, cho biết Nghị định thư Montreal được thông qua năm 1987 là một trong những điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất. Trên phạm vi toàn cầu, khoảng 99% lượng tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn đã được loại trừ. Trên cơ sở những thành tựu đó, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua năm 2016 đã đưa các chất hydrofluorocarbon (HFC), vốn có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao, vào lộ trình kiểm soát và giảm dần.

Tại Việt Nam, các cam kết quốc tế từng bước được cụ thể hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung, gồm Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP. Đặc biệt, Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát.
Đến nay, Việt Nam đã loại trừ hoàn toàn CFC, Halon và CTC, đồng thời chấm dứt sử dụng HCFC-141b nguyên chất trong sản xuất xốp. Đối với HCFC, giai đoạn 2025-2029, mức tiêu thụ phải được duy trì không vượt quá 32,5% mức cơ sở, tương ứng hạn ngạch nhập khẩu 1.300 tấn mỗi năm. Từ năm 2024, Việt Nam cũng bắt đầu quản lý HFC theo hạn ngạch nhập khẩu nhằm thực hiện lộ trình giảm dần theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali.
Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu, quá trình thực hiện Nghị định thư Montreal đã góp phần thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ kỹ thuật trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí. Tuy nhiên, khi nhu cầu làm mát tiếp tục gia tăng, việc kiểm soát lượng môi chất lạnh mới nhập khẩu là chưa đủ.
Ông Quang cho rằng cần tiếp cận vấn đề theo hướng tổng thể, từ giảm nhu cầu làm mát khi có thể, cải thiện hiệu suất thiết bị và hệ thống đến chuyển đổi sang môi chất lạnh có tiềm năng nóng lên toàn cầu thấp, phù hợp với yêu cầu an toàn và đặc thù từng ứng dụng. Song song với đó là tăng cường thu hồi, tái sử dụng, tái chế và xử lý môi chất lạnh đúng quy định.
Ông Bùi Đức Hiếu cũng nhấn mạnh: “Công tác quản lý các chất được kiểm soát đang từng bước được mở rộng từ quản lý nhập khẩu, tiêu thụ và loại trừ sang quản lý trong suốt vòng đời, bao gồm sử dụng, thu gom, thu hồi, tái chế, tái sinh, tái sử dụng và xử lý các chất được kiểm soát từ các sản phẩm, thiết bị. Đây là định hướng quan trọng nhằm hạn chế phát thải ra môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, thúc đẩy chuyển đổi công nghệ và phát triển các hoạt động kỹ thuật phù hợp với với xu hướng kinh tế tuần hoàn”.
Làm mát bền vững mở thêm dư địa đầu tư cho doanh nghiệp
Cùng với hoàn thiện chính sách kiểm soát môi chất lạnh, Việt Nam đang từng bước xây dựng cơ chế thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững, kết nối mục tiêu môi trường với lợi ích kinh tế và nguồn lực tài chính xanh.

Sau khi tham gia Cam kết Làm mát Toàn cầu năm 2023, Việt Nam đã xác định các nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến lĩnh vực này trong Kế hoạch quốc gia ban hành theo Quyết định số 496/QĐ-TTg. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP tiếp tục thể chế hóa khái niệm “làm mát bền vững” và bổ sung các chính sách khuyến khích. Trong khi đó, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh tạo cơ sở để những dự án đáp ứng yêu cầu được xem xét xác nhận thuộc danh mục này.
Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, động lực phát triển làm mát bền vững không chỉ đến từ các quy định bắt buộc mà còn phụ thuộc vào khả năng chứng minh hiệu quả đầu tư. Việc sử dụng hệ thống điều hòa hiệu suất cao, tối ưu thiết bị lạnh tại kho bảo quản hoặc ứng dụng công nghệ làm mát tiết kiệm năng lượng có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí vận hành. Trong khi đó, chuyển đổi sang môi chất lạnh có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu thấp hơn và hạn chế rò rỉ môi chất sẽ góp phần giảm phát thải trực tiếp.
Ông Quang nhấn mạnh: “Chủ động đầu tư, đổi mới sáng tạo và áp dụng các giải pháp làm mát bền vững sẽ mang lại nhiều cơ hội đối với doanh nghiệp, khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt hơn để đầu tư và đổi mới công nghệ, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và nguồn vốn ưu đãi quốc tế”.
Bên cạnh các lợi ích về chi phí và khả năng cạnh tranh, lĩnh vực làm mát còn có tiềm năng đóng góp vào thị trường các-bon. Tuy nhiên, theo Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang, cần phân biệt giữa hoạt động giúp giảm phát thải và dự án đủ điều kiện tạo tín chỉ các-bon. Để chuyển kết quả giảm phát thải thành tín chỉ, dự án phải đáp ứng phương pháp luận được công nhận, chứng minh tính bổ sung, xác định đường cơ sở và thực hiện đầy đủ các yêu cầu đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV). Do đó, tài chính các-bon nên được xem là nguồn lực bổ sung tiềm năng, không phải khoản thu mặc nhiên của mọi dự án.
Tại hội thảo, đại diện Công ty Cổ phần Daikin Conditioning Việt Nam giới thiệu xu hướng sử dụng môi chất lạnh mới và công nghệ làm mát tiên tiến có khả năng ứng dụng tại Việt Nam. Đại diện Công ty TNHH Panasonic Việt Nam chia sẻ về thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu (EPR), trong đó có sáng kiến thí điểm thu mua, thu gom điều hòa không khí đã qua sử dụng để tái chế tại Việt Nam từ tháng 10/2026.
Một nội dung đáng chú ý khác là giới thiệu RefNEXT, công cụ quản lý vòng đời các chất được kiểm soát do Cục Biến đổi khí hậu phối hợp với Liên minh Khí hậu và Không khí sạch (CCAC) phát triển. Công cụ đang được vận hành thử nghiệm nhằm hỗ trợ theo dõi, quản lý, báo cáo các hoạt động liên quan và kết nối những đơn vị cung cấp dịch vụ thu gom, tái chế, xử lý.
Trong thời gian tới, việc nâng cao chất lượng thực hành của kỹ thuật viên, phát triển mạng lưới thu gom, vận chuyển và lưu giữ môi chất lạnh sẽ đóng vai trò quan trọng. Khi hạn ngạch nhập khẩu HCFC và HFC giảm dần, lượng môi chất có thể thu hồi từ thiết bị đang sử dụng sẽ trở thành nguồn lực cần được quản lý hiệu quả. Đây vừa là giải pháp hạn chế phát thải, vừa giúp giảm nhu cầu sử dụng môi chất mới và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Theo định hướng được các đại diện cơ quan quản lý nhấn mạnh, làm mát bền vững cần được nhìn nhận không chỉ như một yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn là hướng đầu tư có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế dài hạn. Khi chính sách, công nghệ, năng lực kỹ thuật và các nguồn tài chính xanh được kết nối đồng bộ, doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện đổi mới thiết bị, giảm phát thải và tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.