Dòng Mekong đang bước vào giai đoạn chuyển mùa với những tín hiệu đáng lo ngại khi lượng nước lũ suy giảm, nguy cơ thiếu nước ngọt gia tăng và hiện tượng El Niño tiếp tục tác động đến chế độ mưa, dòng chảy. Trước dự báo mùa khô 2026–2027 có thể diễn biến gay gắt, các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long đang chủ động xây dựng nhiều kịch bản ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, bảo vệ sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt. Không chỉ là cuộc chạy đua với mùa khô sắp tới, đây còn là phép thử đối với năng lực quản trị tài nguyên nước và chiến lược phát triển bền vững của vùng châu thổ.


Những ngày đầu tháng 11, khi nhiều cánh đồng ở vùng đầu nguồn Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bắt đầu bước vào vụ lúa Đông Xuân, câu chuyện được người nông dân quan tâm không chỉ là giá lúa, chi phí vật tư hay năng suất mùa vụ, mà còn là nguồn nước.
Ở vùng đất vốn quen với nhịp điệu nước nổi, những thay đổi của dòng chảy đang đặt ra yêu cầu phải tính toán lại lịch thời vụ. Lũ rút nhanh, mực nước trên các tuyến sông suy giảm khiến nhiều hộ nông dân tranh thủ bơm tát, làm đất và xuống giống sớm để tránh nguy cơ thiếu nước khi mùa khô đến.
Tại các khu vực Châu Phú, An Phú thuộc An Giang và Hồng Ngự, Tân Điền thuộc Đồng Tháp, hoạt động sản xuất Đông Xuân đã được triển khai theo hướng chủ động hơn. Trong khi đó, ở những vùng ven biển thuộc Vĩnh Long và Cà Mau, các phương án tích trữ nước ngọt, vận hành công trình thủy lợi và bảo vệ sản xuất đang được khẩn trương chuẩn bị.
Đằng sau những thay đổi ấy là diễn biến bất thường của nguồn nước trên toàn lưu vực Mekong.
Theo thông tin từ Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam được Báo Công an TP.HCM phản ánh, lượng mưa trên lưu vực sông Mekong trong tháng 10/2026 thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 20–75%, một số nơi giảm hơn 75%.
Tổng lượng lũ qua trạm Kratie, Campuchia, từ đầu mùa lũ đến cuối tháng 10 đạt khoảng 290,53 tỷ m³, thấp hơn năm 2025 khoảng 21%. Đặc biệt, lượng lũ riêng tháng 10 chỉ đạt 32,77 tỷ m³, thấp hơn trung bình nhiều năm 42% và thấp hơn cùng kỳ năm trước 61%.

Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, dẫn theo Báo Công an TP.HCM, đầu tháng 11/2026.
Lũ thấp, áp lực thiếu nước ngọt gia tăng
Đối với ĐBSCL, mùa lũ không đơn thuần là thời kỳ nước sông dâng cao. Nguồn nước từ thượng nguồn còn có vai trò bổ sung nước ngọt cho hệ thống sông, kênh rạch, vùng trũng và những khu vực có khả năng trữ nước tự nhiên.
Khi lũ thấp hoặc kết thúc sớm, lượng nước được tích trữ có nguy cơ suy giảm, làm thu hẹp nguồn dự phòng cho mùa khô. Trong điều kiện lượng mưa giảm, nhiệt độ tăng và nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất vẫn lớn, sự thiếu hụt này có thể trở thành áp lực đáng kể đối với những vùng sản xuất phụ thuộc nước ngọt.
Đặc biệt, nước ngọt từ thượng nguồn suy giảm còn khiến khả năng đẩy mặn tại các cửa sông yếu đi, tạo điều kiện cho nước biển xâm nhập sâu hơn vào nội đồng trong những đợt triều cường.
Theo Cục Quản lý tài nguyên nước, gần 95% dòng chảy trên lưu vực sông Cửu Long có nguồn gốc từ thượng nguồn Mekong. Sự phụ thuộc lớn này khiến đồng bằng đặc biệt nhạy cảm trước biến động khí hậu, lượng mưa và hoạt động điều tiết nước trên lưu vực.
Điều đáng lo ngại là hạn hán và xâm nhập mặn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến ruộng lúa, vườn cây hay ao nuôi thủy sản, mà còn tác động đến hệ thống cấp nước sinh hoạt, chất lượng đất, sinh kế và sự ổn định lâu dài của các cộng đồng nông thôn.
Khi nguồn nước giảm, người dân phải tăng chi phí bơm tưới, tìm nguồn nước thay thế hoặc thay đổi kế hoạch sản xuất. Với những hộ có điều kiện kinh tế hạn chế, nguy cơ thiệt hại càng lớn nếu cây trồng đã xuống giống nhưng không đủ nước duy trì đến cuối vụ.
Mùa lũ thấp vì thế không chỉ là tín hiệu thủy văn bất thường, mà còn là lời cảnh báo về tính dễ tổn thương của toàn bộ hệ thống sản xuất nông nghiệp vùng châu thổ.

Những cảnh báo về mùa khô 2026–2027 đã được các cơ quan chuyên môn đưa ra từ nhiều tháng trước, khi hiện tượng El Niño hình thành và làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt lượng mưa, suy giảm dòng chảy.
Theo Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng, chống thiên tai, nguồn nước về ĐBSCL trong mùa khô 2026–2027 có thể thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 15–20%.
Trong kịch bản cảnh báo, ranh mặn 4 g/l tại các cửa sông Cửu Long có thể vào sâu khoảng 50–70 km, trong khi các cửa sông Vàm Cỏ có thể ghi nhận mức 110–130 km. Đây là các mức dự báo phục vụ chuẩn bị phương án, không phải độ mặn hay chiều sâu xâm nhập đã quan trắc được tại thời điểm tháng 11/2026.

Thanh biểu diễn theo giá trị giữa của hai khoảng dự báo, quy đổi tương đối trên thang 0–120 km; số liệu cụ thể thể hiện ở bên phải. Nguồn: Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng, chống thiên tai.
Những con số cho thấy tính cấp thiết của việc chuẩn bị trước các tình huống bất lợi. Tuy nhiên, xâm nhập mặn trên thực tế còn phụ thuộc vào lượng mưa, dòng chảy từ thượng nguồn, thủy triều, địa hình và khả năng vận hành hệ thống công trình thủy lợi tại từng khu vực.
Vì vậy, không thể sử dụng một kịch bản chung để điều hành đồng loạt trên toàn đồng bằng.
Vĩnh Long chuẩn bị ba cấp độ ứng phó
Một trong những địa phương sớm xây dựng phương án ứng phó là tỉnh Vĩnh Long, nơi có nhiều khu vực ven biển, vùng sản xuất cây ăn trái và hệ thống thủy lợi chịu tác động của sự thay đổi chế độ mặn – ngọt.
Theo phương án được công bố, tỉnh xây dựng ba kịch bản cho mùa khô 2026–2027:
01/ Hạn mặn ở mức trung bình
Tình hình tương đương các mùa khô thông thường trước đây. Tập trung quan trắc độ mặn, vận hành công trình hợp lý, điều tiết và dự trữ nước ngọt phục vụ sản xuất, sinh hoạt.
02/ Hạn mặn tương đương mùa khô 2015–2016
Tăng cường bảo vệ nguồn nước, rà soát các vùng có nguy cơ thiếu nước, chủ động vận hành công trình ngăn mặn và điều chỉnh kế hoạch sản xuất tại những khu vực nhạy cảm.
03/Hạn mặn tương đương mùa khô lịch sử 2019–2020
Kích hoạt phương án ứng phó tình huống nghiêm trọng, ưu tiên bảo đảm nước sinh hoạt, triển khai các công trình và giải pháp cấp nước cấp bách, hạn chế thiệt hại đối với sản xuất.
Ba cấp độ dựa trên phương án tỉnh Vĩnh Long; diễn giải giải pháp theo hướng quản trị rủi ro, không phải các mức độ đã xảy ra.

Để ứng phó, địa phương dự kiến triển khai đồng thời các giải pháp công trình và phi công trình. Trong đó, hoạt động quan trắc, dự báo và thông tin kịp thời cho người dân được xem là yếu tố quan trọng để chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, vận hành các công trình thủy lợi và bảo vệ nguồn nước.
Các giải pháp công trình được nghiên cứu, đề xuất bao gồm đắp đập tạm trên sông Ba Lai, các trục dẫn ngọt Cả Chát – kênh Phụ Nữ và Đồng Khởi – Chín Thước.
Tổng kinh phí dự kiến cho các giải pháp ứng phó với El Niño, hạn hán và xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh khoảng 10.833 tỷ đồng, từ nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ và ngân sách địa phương. Đây là kinh phí đề xuất theo phương án, không phải số vốn đã giải ngân hoặc toàn bộ được phê duyệt thực hiện.
Việc chuẩn bị các kịch bản cho thấy sự chuyển dịch trong tư duy phòng, chống thiên tai: không chờ hạn mặn xảy ra mới triển khai giải pháp, mà đánh giá trước mức độ rủi ro, xác định phạm vi ảnh hưởng và chuẩn bị phương án tương ứng.
Đối với một vùng đất mà nước ngọt và nước mặn cùng tồn tại, khả năng linh hoạt điều tiết theo từng thời điểm có ý nghĩa quan trọng không kém việc xây dựng thêm công trình.

Nếu Vĩnh Long tập trung chuẩn bị những kịch bản ứng phó theo cấp độ rủi ro, thì tại Đồng Tháp, bài toán cấp thiết được đặt ra là bảo vệ vụ lúa Đông Xuân 2026–2027, hạn chế nguy cơ thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn vào giai đoạn cuối vụ.
Theo kế hoạch, tỉnh dự kiến xuống giống hơn 220.000 ha lúa Đông Xuân. Đến đầu tháng 11/2026, diện tích đã gieo trồng ước đạt khoảng 100.000 ha, tập trung tại Đồng Tháp Mười và vùng ngọt hóa Gò Công.
Tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 11 về phòng, chống hạn, xâm nhập mặn mùa khô 2026–2027, yêu cầu khu vực ngọt hóa Gò Công thu hoạch dứt điểm vụ Đông Xuân trong tháng 2/2027.
Đối với những diện tích không thể xuống giống trong khung thời vụ phù hợp, địa phương định hướng chuyển sang cây rau màu ngắn ngày nhằm hạn chế rủi ro khi nguồn nước tưới suy giảm.
Đây là một cách tiếp cận quan trọng trong quản lý sản xuất nông nghiệp tại vùng thường xuyên chịu tác động của hạn mặn: thay vì cố gắng duy trì diện tích gieo trồng bằng mọi giá, việc lựa chọn thời vụ và cây trồng phải được đặt trong điều kiện nguồn nước thực tế.
Khi nguồn nước trở thành yếu tố giới hạn, hiệu quả sản xuất không chỉ được tính bằng diện tích canh tác hay năng suất dự kiến mà còn phải tính đến khả năng duy trì cây trồng trong suốt chu kỳ sinh trưởng.
Một vụ lúa được xuống giống đúng thời điểm, thu hoạch trước khi mặn xâm nhập sâu, có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ mất mùa. Ngược lại, việc xuống giống muộn tại khu vực thiếu nước có thể khiến người dân đối mặt với chi phí bơm tưới tăng cao và nguy cơ thiệt hại vào cuối vụ.
Bảo vệ nguồn nước sinh hoạt: Ưu tiên không thể trì hoãn
Không chỉ các cánh đồng lúa, hệ thống cấp nước nông thôn cũng đứng trước thách thức lớn khi mùa khô đến gần.
Đối với những vùng dân cư phân tán, xa mạng lưới cấp nước tập trung, nước mưa và các nguồn nước dự trữ tại hộ gia đình vẫn đóng vai trò quan trọng. Khi mùa mưa kết thúc sớm hoặc nguồn nước mặt bị nhiễm mặn, khả năng tiếp cận nước sạch của người dân có nguy cơ bị ảnh hưởng.
Tại Cà Mau, chính quyền tỉnh đã yêu cầu rà soát toàn bộ hệ thống cấp nước, ưu tiên sửa chữa các công trình xuống cấp, đồng thời chuẩn bị phương án cấp nước cho những khu vực khó khăn.
Theo số liệu được công bố đầu tháng 11/2026, tỉnh có 370 công trình cấp nước tập trung ở nông thôn, trong đó 92 công trình đã ngừng hoạt động và 46 công trình được đánh giá kém bền vững.

Nguồn: Thông tin về công tác chuẩn bị ứng phó hạn mặn của tỉnh Cà Mau, tháng 11/2026.
Những con số phản ánh yêu cầu cấp thiết phải nâng cao khả năng vận hành ổn định của hệ thống cấp nước, đặc biệt tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước kéo dài.
Theo phương án của địa phương, những nơi có điều kiện kết nối sẽ được mở rộng mạng lưới đường ống để tăng số hộ sử dụng nước sạch tập trung. Đối với các khu dân cư phân tán, xa công trình cấp nước, tỉnh dự kiến bố trí bồn trữ, điểm cấp nước tạm thời và phương án vận chuyển nước khi cần thiết.
Một số dự án nâng cấp và mở rộng hệ thống cấp nước tại Biển Bạch, Khánh Lâm, Khánh An cùng các chương trình cấp nước nông thôn giai đoạn 2026–2030 cũng được đẩy nhanh. Các dự án dự kiến phục vụ khoảng 7.000 hộ dân, triển khai trong giai đoạn 2026–2028.
Tuy nhiên, đầu tư hạ tầng chỉ là một phần của lời giải. Đối với những khu vực thường xuyên chịu tác động của hạn mặn, năng lực dự trữ tại hộ gia đình, chất lượng nguồn nước và việc phân phối nước trong tình huống khẩn cấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Nguồn nước dành cho ăn uống và sinh hoạt thiết yếu cần được ưu tiên trước. Các nhu cầu sản xuất phải được điều chỉnh theo khả năng cung ứng, nhất là khi nguy cơ thiếu nước kéo dài trên diện rộng.
Bên cạnh đó, không thể xem mọi nguồn nước trữ được là nước an toàn để sử dụng trực tiếp. Nước mưa, nước sông hay nước tích trữ tại ao, bể cần được bảo quản, xử lý và kiểm tra chất lượng phù hợp với mục đích sử dụng.
Giữ nước cho người dân không đơn thuần là tích trữ được bao nhiêu mét khối nước, mà còn là bảo đảm nguồn nước ấy có thể tiếp cận, sử dụng an toàn và duy trì đủ lâu trong những thời điểm khó khăn nhất.
Không để sản xuất nông nghiệp bị động trước ranh giới mặn – ngọt
Ở quy mô rộng hơn, bảo vệ sản xuất nông nghiệp cần được tổ chức theo những vùng sinh thái cụ thể.
Vùng đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp có đặc điểm nguồn nước khác với vùng cửa sông, ven biển Vĩnh Long hay bán đảo Cà Mau. Cơ cấu cây trồng, thời vụ, hệ thống thủy lợi và điều kiện dự trữ nước cũng khác nhau.
Do đó, một giải pháp phù hợp tại khu vực này chưa chắc đã hiệu quả tại khu vực khác.
Những vùng chủ động được nguồn nước có thể bố trí sản xuất theo lịch thời vụ tối ưu, trong khi khu vực thường xuyên thiếu nước cần cân nhắc chuyển đổi cây trồng, giảm quy mô hoặc tạm thời không tổ chức một số vụ sản xuất có rủi ro cao.
Việc sử dụng giống lúa ngắn ngày, quản lý nước tưới tiết kiệm, tận dụng các nguồn dự trữ và tăng cường dự báo theo địa bàn có thể góp phần hạn chế thiệt hại.
Về lâu dài, mô hình sản xuất cũng cần được lựa chọn dựa trên điều kiện sinh thái tự nhiên. Ở những vùng chịu ảnh hưởng mặn – ngọt luân phiên, việc phát triển các mô hình như lúa – tôm, nuôi trồng thủy sản thích ứng hoặc cây trồng phù hợp có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào nguồn nước ngọt quanh năm, nếu đáp ứng yêu cầu về đất, nước, thị trường và sinh kế.

Các công trình ngăn mặn, giữ ngọt đã và đang góp phần quan trọng bảo vệ sản xuất, kiểm soát dòng chảy và chủ động cấp nước tại nhiều địa phương trong vùng.
Tuy nhiên, trước nguy cơ mùa khô cực đoan, câu hỏi không chỉ là có bao nhiêu cống, đập hay tuyến đê được xây dựng, mà còn là nguồn nước ngọt có đủ để duy trì phía bên trong hệ thống hay không.
Một công trình ngăn mặn có thể hạn chế nước mặn xâm nhập trong những điều kiện nhất định, nhưng không thể tự tạo ra nguồn nước ngọt khi dòng chảy từ thượng nguồn suy giảm và lượng nước dự trữ đã cạn kiệt.
Nếu việc điều tiết chỉ tập trung ngăn mặn mà thiếu phương án bổ sung nước, một số khu vực có nguy cơ rơi vào tình trạng thiếu nước ngay bên trong vùng được bảo vệ.
Đây là vấn đề được các chuyên gia nghiên cứu về tài nguyên nước và hệ sinh thái ĐBSCL đặc biệt lưu ý.
Theo PGS.TS Lê Anh Tuấn, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ, khi lũ kết thúc sớm, lượng nước tích trữ bổ sung cho mùa khô suy giảm, kéo theo nguy cơ thiếu nước ngọt và gia tăng xâm nhập mặn.
Ông khuyến nghị người dân chủ động tận dụng các phương tiện sẵn có như lu, ao, hồ hoặc túi chứa dung tích lớn để dự trữ nước mưa và nước ngọt ngay từ thời điểm còn nguồn cung.

Từ góc độ sinh thái vùng, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về ĐBSCL, cũng cảnh báo nguy cơ mùa khô 2027 có thể diễn biến gay gắt và cho rằng các phương án ứng phó phải được thiết kế riêng cho từng tiểu vùng.
Với những khu vực đầu nguồn như Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, việc sản xuất và tổ chức sinh kế phải tính đến khả năng lũ thấp, thời gian ngập ngắn.
Tại vùng cửa sông Cửu Long, cần chủ động điều chỉnh lịch canh tác để thu hoạch trước giai đoạn mặn cao điểm. Trong khi đó, bán đảo Cà Mau phải đặc biệt chú trọng khả năng trữ nước mưa và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt.
Ông Nguyễn Hữu Thiện còn đặt ra yêu cầu xem xét lại việc ngọt hóa quanh năm tại một số khu vực vốn có đặc điểm mặn – ngọt luân phiên, đồng thời cảnh báo nguy cơ sụt lún đất trong điều kiện khô hạn kéo dài.

Bài học từ những mùa hạn mặn lịch sử
ĐBSCL từng trải qua những đợt hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng trong các mùa khô 2015–2016 và 2019–2020.
Những sự kiện này cho thấy việc thiếu nước ngọt có thể xảy ra trên diện rộng khi dòng chảy thượng nguồn suy giảm, lượng mưa thấp và xâm nhập mặn gia tăng.
Dù hệ thống thủy lợi, năng lực dự báo và kinh nghiệm ứng phó đã được cải thiện qua từng giai đoạn, những mùa hạn mặn lịch sử vẫn để lại bài học quan trọng về tính chủ động.
Trước hết, phải xác định rõ thời điểm nguồn nước có khả năng suy giảm để có phương án tích trữ trước khi quá muộn.
Thứ hai, không thể áp dụng một mô hình sản xuất cố định tại những vùng có chế độ thủy văn biến đổi mạnh theo mùa.
Thứ ba, hiệu quả của công trình thủy lợi cần được đánh giá trong mối quan hệ với dòng chảy, môi trường sinh thái và nhu cầu nước của toàn hệ thống.
Cuối cùng, việc bảo đảm an toàn cho người dân, đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt, phải được đặt lên hàng đầu.
Những bài học ấy đang trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún đất và biến động nguồn nước xuyên biên giới tiếp tục tạo sức ép lên vùng châu thổ.
Điều này không có nghĩa phải từ bỏ các công trình thủy lợi hay hoạt động ngăn mặn. Vấn đề là kết hợp hợp lý giữa công trình, quản lý nguồn nước, điều chỉnh sản xuất và thích ứng theo quy luật tự nhiên, tránh phụ thuộc vào một giải pháp duy nhất.

ĐBSCL được hình thành và phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với chế độ dòng chảy của sông Mekong. Mỗi mùa nước nổi, mỗi giai đoạn nước rút và mỗi chu kỳ mặn – ngọt đều góp phần định hình hệ sinh thái, phương thức canh tác và đời sống của cư dân vùng châu thổ.
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và những thay đổi ngày càng lớn của nguồn nước, cách thức quản lý dựa trên những quy luật mùa vụ quen thuộc đang đối mặt với nhiều thách thức.
Những thay đổi không chỉ xảy ra ở các cửa sông hay vùng ven biển. Tác động có thể lan rộng đến những khu vực sản xuất nằm sâu trong nội đồng thông qua mạng lưới sông, kênh rạch và hệ thống cấp nước liên vùng.
Điều đó đòi hỏi việc ứng phó hạn mặn phải được đặt trong tổng thể quản trị tài nguyên nước, thay vì giới hạn ở từng địa phương hay từng công trình riêng biệt.

Những giải pháp trên cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết đặt ra định hướng phát triển dựa trên điều kiện tự nhiên, coi trọng sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường, thúc đẩy mô hình thích ứng với những biến đổi của vùng châu thổ.
Một hướng tiếp cận quan trọng là phân biệt giữa bảo vệ những khu vực sản xuất cần nước ngọt ổn định với việc phát triển các hệ thống sinh kế có thể thích nghi với chế độ nước mặn, nước lợ và nước ngọt theo mùa.
Ở những địa bàn có điều kiện phù hợp, việc chủ động chuyển đổi sản xuất có thể mang lại lợi ích dài hạn, giảm chi phí duy trì nguồn nước ngọt và hạn chế nguy cơ thiệt hại do những biến động cực đoan.
Dù vậy, quá trình chuyển đổi không thể thực hiện một cách cơ học. Cần đánh giá đầy đủ điều kiện đất đai, nguồn nước, hệ thống hạ tầng, thị trường tiêu thụ và khả năng thích ứng của người dân để tránh tạo ra những rủi ro sinh kế mới.
Không chờ thiếu nước mới hành động
Ngày 16/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Công văn số 11942/BNNMT-TNN, đề nghị các địa phương trong vùng gồm Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, Cần Thơ, An Giang và Cà Mau triển khai sớm các giải pháp ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do El Niño.
Văn bản nhấn mạnh yêu cầu tận dụng điều kiện thuận lợi ngay từ năm 2026 để tích trữ nước ngọt, điều chỉnh sản xuất và nâng cao hiệu quả vận hành công trình thủy lợi.
Đây là một định hướng đặc biệt quan trọng khi những dấu hiệu cảnh báo về mùa khô 2026–2027 đã xuất hiện từ sớm.
Việc chờ đợi đến khi độ mặn tăng cao, ruộng đồng thiếu nước hoặc các công trình cấp nước gặp khó khăn mới tổ chức ứng phó có thể làm tăng chi phí và thu hẹp khả năng xử lý.
Ngược lại, nếu thông tin dự báo được cập nhật kịp thời, các phương án sản xuất được điều chỉnh ngay từ đầu vụ và nguồn nước dự phòng được chuẩn bị đầy đủ, địa phương có thể giảm thiểu đáng kể nguy cơ tổn thất.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số cũng có thể hỗ trợ công tác quản lý hạn mặn thông qua hệ thống quan trắc tự động, bản đồ dự báo xâm nhập mặn, dữ liệu nguồn nước và nền tảng cảnh báo đến cộng đồng.
Những thông tin về độ mặn, mực nước và thời điểm có thể lấy nước cần được truyền tải theo cách dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm người dân, thay vì chỉ tồn tại dưới dạng báo cáo chuyên môn.
Điều quan trọng là biến dữ liệu thành những quyết định cụ thể: khi nào nên lấy nước, lúc nào cần đóng cống, khu vực nào phải tích trữ nước, diện tích nào cần điều chỉnh lịch gieo trồng.
Quản trị nguồn nước hiệu quả không chỉ giúp ứng phó với một mùa khô, mà còn tạo nền tảng cho quá trình thích ứng lâu dài của toàn vùng ĐBSCL.
Mùa khô 2026–2027 đang đặt ĐBSCL trước một phép thử mới về năng lực dự báo, điều hành nguồn nước và bảo vệ sinh kế người dân.
Từ những cánh đồng xuống giống sớm ở Đồng Tháp, các kịch bản hạn mặn của Vĩnh Long đến kế hoạch bảo đảm nước sinh hoạt tại Cà Mau, sự chủ động đang được thể hiện thông qua những giải pháp cụ thể.
Tuy nhiên, khả năng vượt qua một mùa khô bất lợi không chỉ phụ thuộc vào những công trình được xây dựng hay lượng nước có thể tích trữ. Điều quan trọng hơn là sự phối hợp giữa các địa phương, tính chính xác của thông tin dự báo và khả năng tổ chức sản xuất phù hợp với nguồn nước thực tế.
Hạn hán, xâm nhập mặn không còn là những nguy cơ chỉ xuất hiện trong một vài năm đặc biệt. Đối với vùng châu thổ chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, đây là những thách thức cần được đưa vào kế hoạch phát triển thường xuyên và dài hạn.
Từ bài học của các mùa hạn mặn lịch sử, yêu cầu đặt ra không chỉ là làm thế nào để ngăn nước mặn tiến sâu hơn, mà còn là làm thế nào để quản lý hiệu quả từng nguồn nước, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển những mô hình sinh kế có khả năng thích nghi.
Khi việc phòng, chống hạn mặn được chuyển từ thế bị động sang chủ động, từ xử lý tình huống sang quản trị rủi ro và từ đối phó với thiên nhiên sang thích ứng với những quy luật tự nhiên, ĐBSCL sẽ có thêm nền tảng để bảo vệ sản xuất và duy trì sự phát triển bền vững.

Hoàng Việt