
Sáng 2/10, sân Rồng Lam Kinh đông người từ sớm. Đoàn rước kiệu vua Lê Thái Tổ và Trung Túc Vương Lê Lai tiến về khu vực chính điện giữa tiếng trống, tiếng nhạc lễ. Nghi thức dâng hương, đọc chúc văn tấu cáo được thực hiện trang nghiêm trước khi Bí thư Tỉnh ủy Lê Đức Thái đánh trống khai hội.

Lễ hội Lam Kinh năm 2026 diễn ra từ ngày 1 đến 3/10, kỷ niệm 608 năm Khởi nghĩa Lam Sơn, 598 năm vua Lê Thái Tổ đăng quang và 593 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc Lê Lợi. Sau phần lễ, chương trình nghệ thuật “Hào khí Lam Sơn - Bản hùng ca đất Việt” tái hiện những dấu mốc của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bằng sân khấu, âm nhạc và các loại hình diễn xướng dân gian. Hơn 200 nghệ sĩ, diễn viên, nghệ nhân tham gia chương trình.

Nhưng Lam Kinh năm nay không chỉ có sân Rồng, chính điện hay những câu chuyện của lịch sử. Từ khu vực cổng vào chân cầu Bạch, một không gian khác mở ra với tiếng nói cười, những bộ trang phục nhiều màu sắc và các gian hàng bày đầy sản vật miền núi.
Đây là lần đầu Liên hoan Văn nghệ dân gian - Phiên chợ vùng cao được đưa vào khuôn khổ Lễ hội Lam Kinh. Các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số mang đến đây nông sản, dược liệu, sản phẩm OCOP, đồ thủ công, ẩm thực truyền thống và những tiết mục văn nghệ dân gian.
Trong dòng người đi qua phiên chợ, những bộ trang phục dân tộc là thứ dễ bắt mắt nhất. Nhưng càng nhìn kỹ, người ta càng nhận ra phía sau màu sắc ấy không chỉ là một tiết mục biểu diễn mà còn là những sản phẩm, nghề thủ công và tập quán đang được duy trì trong đời sống.
Trần Thị Thùy, thôn Cẩm Châu, xã Cẩm Vân, tham gia chương trình với tiết mục “Làng Dao quê em”, giới thiệu bản sắc của người Dao Quần Chẹt. Trang phục truyền thống, động tác múa và âm nhạc dân gian đưa một phần đời sống văn hóa của cộng đồng Dao đến gần hơn với những người đang có mặt tại Lam Kinh.
Ở một không gian khác, Hà Thị Vinh, xã Quan Sơn, giới thiệu những sản vật vùng cao gồm măng, gạo nếp Cay Nọi, thịt trâu gác bếp. Đây đều là những sản phẩm quen thuộc với đời sống miền núi, nhưng khi được đưa xuống một lễ hội lớn, chúng có thêm cơ hội tiếp cận với những khách hàng ở xa vùng sản xuất.
Gian hàng của chị Vinh không có những sản phẩm cầu kỳ. Những gói gạo, bó măng, phần thịt trâu gác bếp được sắp xếp gọn gàng, người bán vừa giới thiệu sản phẩm vừa trò chuyện với khách. Có người hỏi cách chế biến, có người hỏi nguồn gốc, cũng có người mua thử vài món mang về.

Với người làm sản phẩm ở vùng cao, những cuộc trò chuyện như vậy có giá trị không kém một lần bán hàng. Khách thích gì, hỏi gì, sản phẩm nào được chú ý - tất cả đều là những thông tin trực tiếp mà người sản xuất khó có được nếu chỉ bán hàng trong phạm vi địa phương.
Cách đó không xa, bà Phạm Thị Hoa, xã Quan Hóa, nổi bật trong chiếc váy thổ cẩm. Giữa không gian lễ hội có hàng nghìn lượt người qua lại, trang phục truyền thống trở thành một cách giới thiệu rất tự nhiên về nơi bà sinh sống.
Những hoa văn trên váy, những sản vật đặt trên bàn, những món ăn được chế biến tại chỗ hay một tiết mục văn nghệ dân gian đều có chung một điểm đó là chúng bắt đầu từ đời sống thật của cộng đồng.
Phiên chợ vùng cao không chỉ là nơi mua bán. Người đến hội có thể vừa xem một tiết mục dân gian, vừa tìm hiểu một bộ trang phục, thưởng thức món ăn hoặc mua một sản vật mà trước đó chưa từng biết đến.
Những sản phẩm được giới thiệu tại phiên chợ như măng, mật ong, dược liệu, nấm, thịt gác bếp, thổ cẩm, các loại nông sản và sản phẩm OCOP. Các hoạt động văn nghệ dân gian được tổ chức song song giúp sản phẩm không đứng tách khỏi không gian văn hóa đã tạo ra nó.
Đó là điểm đáng chú ý của cách tổ chức năm nay chính là mang cả sản vật lẫn đời sống của vùng cao về một không gian lễ hội lịch sử.

Một phiên chợ chỉ diễn ra trong vài ngày không thể giải quyết ngay bài toán đầu ra cho nông sản miền núi. Nhưng nó có thể tạo ra một điều rất cụ thể khi đưa người sản xuất đến gần người tiêu dùng.
Với những sản phẩm như gạo nếp Cay Nọi, măng hay thịt trâu gác bếp, khách hàng nhìn thấy sản phẩm, hỏi người bán và trực tiếp quyết định có mua hay không. Người bán cũng có cơ hội biết sản phẩm của mình được đón nhận thế nào. Từ những giao dịch nhỏ, có thể hình thành những mối liên hệ lớn hơn nếu sản phẩm đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng.
Đây cũng là phần mà các phiên chợ du lịch thường khó tạo ra nếu chỉ dừng ở việc trưng bày. Sản phẩm phải có khả năng đi tiếp sau khi khách rời Lam Kinh: qua cửa hàng đặc sản, điểm du lịch, hệ thống phân phối hoặc các kênh bán hàng trực tuyến.
Muốn vậy, sản vật vùng cao không thể mãi phụ thuộc vào cách bán theo mùa vụ hoặc theo những chuyến hàng nhỏ lẻ. Chất lượng phải ổn định, bao bì thuận tiện, nguồn gốc rõ ràng và thương hiệu đủ nhận diện để khách có thể tìm mua lần sau.
Lễ hội có thể tạo ra cú hích ban đầu, nhưng để sản vật đi xa hơn thì cần cả một chuỗi phía sau người bán hàng.
Ở góc độ du lịch, việc đưa sản vật vào lễ hội cũng làm thay đổi cách du khách trải nghiệm Lam Kinh. Một chuyến về khu di tích không chỉ có dâng hương, tham quan và xem chương trình nghệ thuật. Người đến hội có thể dành thêm thời gian ở phiên chợ, thưởng thức món ăn, mua quà và tìm hiểu về những vùng đất khác của Thanh Hóa.
Đó là cách văn hóa và sản vật bổ sung cho nhau. Một bộ trang phục truyền thống có thể khiến du khách tò mò về cộng đồng đã tạo ra nó. Một món ăn có thể khiến họ muốn biết nguyên liệu được lấy từ đâu. Một gói nông sản có thể trở thành thứ được mang về nhà sau chuyến đi và tiếp tục nhắc người mua về vùng đất nơi nó được làm ra.
Từ Lam Kinh, những sản vật ấy có thêm một lần xuất hiện trước thị trường. Còn với Lam Kinh, phiên chợ giúp không gian lễ hội bớt đơn tuyến, khi lịch sử, văn hóa và đời sống hiện tại cùng hiện diện trong một hành trình.
Sáng ở sân Rồng là tiếng trống khai hội, là nghi lễ dâng hương và câu chuyện về những người đã làm nên lịch sử. Ra khỏi không gian chính điện, du khách gặp những người phụ nữ trong trang phục Dao, Thái, Mường; gặp người bán măng, bán gạo, bán thịt gác bếp; nghe những làn điệu dân gian và nhìn những sản phẩm được làm từ chính vùng đất họ vừa nghe nhắc đến.
Lễ hội Lam Kinh năm nay đặt hai lớp ấy cạnh nhau, không quá xa cách. Chính điều đó tạo nên sự rộn ràng riêng cho những ngày hội, khi tiếng trống gọi về lịch sử, còn phiên chợ kéo đời sống hôm nay đến gần di sản.
Và trong dòng người rời Lam Kinh, có thể sẽ có người mang theo một sản vật của bà con bản vùng cao, hay ấn tượng về “Làng Dao quê em”. Những thứ nhỏ bé ấy chưa phải là một thị trường lớn, nhưng là điểm bắt đầu để một vùng đất được biết đến bằng chính sản phẩm và văn hóa của mình.
Hà Khải