Thách thức môi trường, địa chính trị và an ninh chuỗi cung ứng trong chuyển dịch năng lượng toàn cầu

Bài nghiên cứu khoa học "Thách thức môi trường, địa chính trị và an ninh chuỗi cung ứng trong chuyển dịch năng lượng toàn cầu" do tác giả Bùi Thị Tiến (Khoa Kinh tế Chính trị - Học viện Báo chí và Tuyên truyền) thực hiện.

Tóm tắt:
Bài viết phân tích một cách hệ thống ba lớp rủi ro đang tái cấu trúc chuyển dịch năng lượng toàn cầu trong giai đoạn 2021-2026, gồm rủi ro môi trường, rủi ro địa chính trị và rủi ro an ninh chuỗi cung ứng. Trên cơ sở tổng hợp tài liệu thứ cấp từ các báo cáo của IEA, IRENA, OECD, IMF, UNCTAD, World Bank, các công trình học thuật gần đây và các văn bản chính sách chọn lọc của Việt Nam, nghiên cứu cho thấy quá trình chuyển dịch năng lượng không đơn thuần là thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng công nghệ sạch, mà là sự chuyển dịch từ phụ thuộc carbon sang phụ thuộc vật liệu, công nghệ, dữ liệu, hạ tầng lưới điện và quyền kiểm soát các mắt xích chiến lược của chuỗi giá trị. Những cú sốc địa chính trị sau đại dịch, xung đột Nga-Ukraine, xu hướng trợ cấp công nghiệp xanh, gia tăng hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô, cùng sự tập trung cao của công suất tinh luyện và chế biến khoáng sản quan trọng đã làm nổi bật tính dễ tổn thương của chuỗi cung ứng năng lượng sạch. Đồng thời, mở rộng khai thác khoáng sản cho chuyển dịch năng lượng lại tạo ra áp lực đáng kể đối với nước, đất, đa dạng sinh học, quyền cộng đồng và công bằng phân phối. Bài viết đề xuất một khung phân tích tích hợp giữa an ninh năng lượng, kinh tế chính trị của chuyển dịch xanh, quản trị chuỗi cung ứng bền vững và chuyển dịch công bằng. Từ đó, nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy “mở rộng công suất bằng mọi giá” sang mô hình quản trị có khả năng chống chịu, minh bạch truy xuất, tuần hoàn vật liệu, nội địa hóa có chọn lọc, hợp tác chiến lược và điều phối chính sách đa cấp. Đối với Việt Nam, bài viết chỉ ra rằng hoàn thiện khung pháp lý điện lực, cơ chế mua bán điện trực tiếp, quy hoạch điện, thị trường carbon, hydrogen xanh và thể chế đổi mới sáng tạo là điều kiện then chốt để vừa tận dụng cơ hội tái cấu trúc chuỗi giá trị xanh, vừa giảm thiểu rủi ro môi trường, địa chính trị và phụ thuộc công nghệ trong giai đoạn tới.
 

Từ khóa: chuyển dịch năng lượng; địa chính trị năng lượng; khoáng sản quan trọng; an ninh chuỗi cung ứng; chuyển dịch công bằng; quản trị carbon.

Abstract
This article provides a systematic analysis of the three layers of risk reshaping the global energy transition during 2021-2026: environmental risk, geopolitical risk and supply-chain security risk. Drawing on secondary evidence from the IEA, IRENA, OECD, IMF, UNCTAD, the World Bank, recent academic studies and selected Vietnamese policy documents, the study argues that the energy transition is not merely a substitution of fossil fuels with clean technologies. Rather, it represents a structural shift from carbon dependence toward dependence on critical minerals, manufacturing capabilities, data systems, grid infrastructure and control over strategic nodes of global value chains. Post-pandemic disruptions, the Russia-Ukraine war, green industrial subsidies, rising export restrictions on raw materials and the high concentration of refining capacity for critical minerals have collectively exposed the fragility of clean-energy supply chains. At the same time, the scaling-up of mineral extraction for low-carbon technologies has generated significant pressures on water, land, biodiversity, community rights and distributive justice. The article proposes an integrated analytical framework combining energy security, the political economy of green transition, sustainable supply-chain governance and just transition. On that basis, it argues for a strategic shift from a narrow “capacity expansion at any cost” approach toward a resilience-oriented model built on traceability, circularity, selective localisation, strategic partnerships and multi-level policy coordination. For Viet Nam, the paper highlights the importance of strengthening electricity law, direct power purchase mechanisms, power planning, carbon-market institutions, green hydrogen policy and innovation governance in order to capture opportunities from the reconfiguration of green value chains while reducing environmental, geopolitical and technological dependence risks.
Keywords: energy transition; energy geopolitics; critical minerals; supply chain security; just transition; carbon governance.

1. Giới thiệu

Chuyển dịch năng lượng toàn cầu bước sang giai đoạn mới khi mục tiêu giảm phát thải ròng về “0” không còn là tuyên bố chính trị mang tính biểu tượng mà đang được dịch chuyển thành các chiến lược công nghiệp, chính sách thương mại, quy định chuỗi cung ứng và thiết kế lại các hệ sinh thái công nghệ ở quy mô quốc gia và khu vực.

Sau COP28, cộng đồng quốc tế nhấn mạnh yêu cầu “transitioning away from fossil fuels in energy systems” theo hướng công bằng, có trật tự và bình đẳng, đồng thời thúc đẩy tăng gấp ba công suất năng lượng tái tạo và tăng gấp đôi hiệu quả sử dụng năng lượng đến năm 2030 (UNFCCC, 2024). Tuy nhiên, chính ngay khi đà chuyển dịch tăng tốc, các rủi ro mới cũng xuất hiện dày đặc hơn: từ gián đoạn logistics hậu đại dịch, cú sốc giá năng lượng do xung đột Nga-Ukraine, cạnh tranh trợ cấp xanh giữa các trung tâm công nghiệp, cho tới các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với nguyên liệu và công nghệ chiến lược.

Khác với giai đoạn mà an ninh năng lượng chủ yếu được hiểu như bảo đảm nguồn cung dầu khí và ổn định tuyến vận tải, an ninh năng lượng trong kỷ nguyên chuyển dịch xanh đang mở rộng sang an ninh khoáng sản quan trọng, an ninh công nghiệp xanh, an ninh lưới điện, an ninh dữ liệu và an ninh thể chế. IEA (2024a, 2025a) cho thấy tăng trưởng nhu cầu đối với lithium, đồng, nickel, cobalt, graphite và đất hiếm đang được dẫn dắt chủ yếu bởi các công nghệ năng lượng sạch; song nguồn cung khai thác và đặc biệt là công suất tinh luyện vẫn tập trung cao ở một số quốc gia. Điều đó tạo ra nghịch lý: càng đầu tư cho giảm phát thải, hệ thống năng lượng càng phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng vật liệu và công nghệ có mức độ tập trung, bất đối xứng quyền lực và rủi ro địa chính trị cao.

Cùng lúc, chuyển dịch năng lượng không mặc nhiên đồng nghĩa với bền vững môi trường. Nhiều nghiên cứu gần đây nhấn mạnh rằng việc mở rộng khai thác khoáng sản để phục vụ xe điện, pin lưu trữ, turbine gió, điện mặt trời hay hạ tầng lưới điện có thể làm gia tăng áp lực lên nước, đất, hệ sinh thái, phát sinh tranh chấp đất đai, ảnh hưởng tới cộng đồng bản địa và làm trầm trọng hơn các bất công phân phối giữa nơi tiêu dùng công nghệ sạch và nơi cung ứng tài nguyên (Berthet et al., 2024; Carr-Wilson et al., 2024; Riggs et al., 2025). Nói cách khác, nếu thiếu cơ chế quản trị phù hợp, chuyển dịch xanh có thể làm giảm phát thải ở một số trung tâm công nghiệp nhưng đồng thời “ngoại biên hóa” chi phí xã hội - sinh thái sang các không gian khai thác và chế biến ở nước khác.

Trong bối cảnh đó, bài viết này đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu. Thứ nhất, giai đoạn 2021-2026 đã làm biến đổi cấu trúc rủi ro môi trường, địa chính trị và chuỗi cung ứng của chuyển dịch năng lượng toàn cầu như thế nào? Thứ hai, các khuôn khổ chính sách đang nổi lên trên thế giới và ở Việt Nam phản ứng ra sao trước những rủi ro mới này? Thứ ba, cần định hình những hàm ý chính sách nào để bảo đảm rằng chuyển dịch năng lượng không chỉ nhanh hơn mà còn bền vững hơn, công bằng hơn và có khả năng chống chịu cao hơn?

Nhiều nghiên cứu hiện nay đi sâu vào từng mảng riêng lẻ - chẳng hạn khoáng sản quan trọng, địa chính trị của quá trình khử carbon, hay công bằng môi trường - nhưng chưa kết nối đầy đủ các biến số này trong cùng một logic kinh tế chính trị. Đóng góp mới của bài viết vì vậy là đề xuất một khung phân tích liên ngành, dùng để lý giải vì sao chuyển dịch năng lượng hiện nay là quá trình tái phân bổ không chỉ công nghệ mà cả quyền lực, chi phí môi trường, lợi ích công nghiệp và vị thế chiến lược trong hệ thống kinh tế toàn cầu.

Bài viết đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam, quốc gia đang đồng thời theo đuổi ba mục tiêu: bảo đảm an ninh năng lượng, thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và nâng cao vị thế trong các chuỗi giá trị xanh. Từ Quy hoạch điện VIII và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, cơ chế mua bán điện trực tiếp, Chiến lược hydrogen, đến khung pháp lý thị trường carbon và các thể chế đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, Việt Nam đang từng bước xây dựng nền tảng chính sách cho quá trình chuyển dịch năng lượng trong bối cảnh cạnh tranh địa kinh tế mới (Bộ Chính trị, 2020; Chính phủ, 2024a; Quốc hội, 2024; Thủ tướng Chính phủ, 2025a, 2026a).

2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

2.1. Khung lý thuyết phân tích

Bài viết sử dụng bốn trụ cột lý thuyết bổ trợ cho nhau. Trụ cột thứ nhất là lý thuyết an ninh năng lượng mở rộng. Nếu trong mô hình truyền thống, an ninh năng lượng xoay quanh tính sẵn có, khả năng chi trả và độ tin cậy của dầu khí, thì trong bối cảnh chuyển dịch xanh, khái niệm này cần bao hàm cả an ninh khoáng sản, an ninh công nghệ, an ninh lưới điện và khả năng chống chịu của các hệ thống cung ứng liên ngành (IRENA, 2024; IMF, 2024a). Cách tiếp cận này cho phép giải thích vì sao mở rộng năng lượng tái tạo không tự động làm giảm rủi ro hệ thống, mà có thể chỉ chuyển dạng rủi ro từ nhiên liệu sang vật liệu, từ tuyến hàng hải sang điểm nghẽn tinh luyện và từ phụ thuộc nhập khẩu dầu sang phụ thuộc nhập khẩu linh kiện, pin và đất hiếm.

Trụ cột thứ hai là kinh tế chính trị của chuyển dịch năng lượng. Kuzemko et al. (2025) cho rằng cần vượt ra khỏi cách hiểu địa chính trị năng lượng theo nghĩa cổ điển - vốn chủ yếu gắn với xung đột vì dầu khí - để nhìn nhận chuyển dịch năng lượng như một quá trình tái cấu trúc quyền lực kinh tế toàn cầu. Trong cách nhìn này, nhà nước không chỉ là người điều tiết thị trường mà còn là chủ thể cạnh tranh công nghiệp, thiết kế trợ cấp, lựa chọn công nghệ, xây dựng liên minh nguyên liệu và bảo vệ lợi ích chiến lược. Chuyển dịch năng lượng vì vậy không diễn ra trên “sân chơi trung lập”, mà trong một môi trường địa kinh tế có sự can thiệp mạnh của chính sách công, thương mại chiến lược và chủ nghĩa công nghiệp xanh.

Trụ cột thứ ba là quản trị chuỗi cung ứng bền vững. Các công nghệ năng lượng sạch dựa trên các chuỗi giá trị phân tán xuyên biên giới, trong đó khai thác, tinh luyện, sản xuất vật liệu, chế tạo thiết bị, lắp ráp và tái chế thường diễn ra ở các không gian pháp lý và tiêu chuẩn khác nhau. OECD và IEA nhấn mạnh rằng khả năng truy xuất nguồn gốc, tính minh bạch dữ liệu, kiểm chứng độc lập và phối hợp tiêu chuẩn đang trở thành công cụ trung tâm để quản trị rủi ro ESG, ngăn ngừa gián đoạn và tạo lòng tin cho thị trường (IEA & OECD, 2025). Do đó, an ninh chuỗi cung ứng không thể tách rời quản trị chuỗi cung ứng có trách nhiệm.

Trụ cột thứ tư là tiếp cận chuyển dịch công bằng và công bằng môi trường. Nghiên cứu về khoáng sản quan trọng chỉ ra rằng một quá trình giảm phát thải được coi là thành công về mặt khí hậu vẫn có thể thất bại về mặt xã hội nếu nó làm gia tăng bất bình đẳng, tước đoạt quyền cộng đồng, làm xói mòn sinh kế hoặc chuyển rủi ro sinh thái sang các khu vực khai thác tài nguyên (Berthet et al., 2024; Riggs et al., 2025). Vì thế, tiêu chí đánh giá chuyển dịch năng lượng phải bao gồm cả công bằng thủ tục, công bằng phân phối và công bằng nhận diện, thay vì chỉ dừng ở lượng phát thải giảm được.

2.2. Tổng quan nghiên cứu

Đến nay, một số nghiên cứu tập trung vào cường độ khoáng sản của chuyển dịch năng lượng và các rủi ro vật liệu. Từ báo cáo nền tảng của IEA (2021) đến các báo cáo cập nhật 2024-2025, điểm nhất quán là công nghệ sạch đòi hỏi khối lượng khoáng sản cao hơn đáng kể so với hệ thống năng lượng hóa thạch, đặc biệt đối với pin, lưới điện, turbine gió và xe điện. IEA (2024a) cho thấy nhu cầu lithium năm 2023 tăng 30%, trong khi nickel, cobalt, graphite và đất hiếm tăng từ 8% đến 15%; theo các kịch bản tham vọng hơn, tổng cầu khoáng sản cho công nghệ năng lượng sạch có thể gần gấp ba vào năm 2030 và gấp bốn vào năm 2040. Tuy nhiên, điểm mạnh của nhóm nghiên cứu này là định lượng tốt xu hướng nhu cầu - cung, còn điểm hạn chế là thường xem nhẹ cấu trúc quyền lực chính trị chi phối việc phân bổ lợi ích và rủi ro trong chuỗi giá trị.

Một số khác nhấn mạnh rủi ro ESG và tác động môi trường - xã hội của khai thác khoáng sản quan trọng. Carr-Wilson et al. (2024) tổng hợp 69 công trình và nhận diện 26 yếu tố ESG, trong đó số rủi ro vượt xa cơ hội; Berthet et al. (2024) chỉ ra rằng mục tiêu khí hậu của châu Âu có thể kéo theo áp lực nước và rủi ro lao động cưỡng bức ở các khu vực khai thác ngoài châu Âu; Riggs et al. (2025) lập luận rằng quản trị khoáng sản cho chuyển dịch công bằng phải gắn với các tiếp cận đa giá trị, thay vì quy giản quyết định chính sách vào tính toán hiệu quả tài chính. Dòng nghiên cứu này rất mạnh trong việc bóc tách “mặt tối” của công nghệ xanh, nhưng đôi khi ít quan tâm đến cách thiết kế cơ chế công nghiệp và thương mại để đồng thời xử lý cả mục tiêu giảm phát thải lẫn mục tiêu phát triển.

Hơn nữa, một số nghiên cứu đi theo hướng địa chính trị và địa kinh tế của chuyển dịch năng lượng. Kuzemko et al. (2025) cho rằng cần phát triển một nghị trình nghiên cứu mới về “kinh tế chính trị địa chính trị của chuyển dịch năng lượng toàn cầu”, trong đó các chủ đề như tái cấu trúc thương mại, nội địa hóa sản xuất, kiểm soát tài nguyên chiến lược và trợ cấp công nghiệp trở thành biến số trung tâm. IRENA (2024) cũng nhấn mạnh rằng an ninh năng lượng trong thời kỳ tái tạo đòi hỏi xây dựng khả năng chống chịu của hạ tầng, lưới điện, chuỗi giá trị và quan hệ đối tác, thay vì chỉ thay đổi cơ cấu nguồn điện. So với các tiếp cận thiên về kỹ thuật, dòng nghiên cứu này cho thấy bản chất quyền lực của chuyển dịch xanh, nhưng vẫn còn khoảng trống khi kết nối với đánh giá môi trường cụ thể ở cấp chuỗi cung ứng.

Thêm vào đó, một số công trình nghiên cứu tập trung vào chính sách chuỗi cung ứng và tính minh bạch. IEA và OECD (2025) cho thấy truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa dữ liệu, cơ chế xác minh và chia sẻ dữ liệu an toàn là điều kiện nền tảng để quản lý rủi ro ESG và bảo đảm tính hợp pháp của thị trường khoáng sản chiến lược. OECD (2025a, 2025b) cũng chỉ ra rằng số lượng hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô tăng mạnh, ảnh hưởng đáng kể tới cobalt, nickel và đất hiếm; điều này làm rõ một sự thật rằng thị trường khoáng sản cho chuyển dịch năng lượng ngày càng mang tính chính trị hóa cao.

Từ tổng quan trên, khoảng trống chủ yếu là thiếu một mô hình phân tích hợp nhất ba cấp độ: (i) cấp độ vật chất - sinh thái, nơi diễn ra khai thác và chế biến; (ii) cấp độ địa kinh tế - chính sách, nơi diễn ra trợ cấp, cạnh tranh công nghiệp và kiểm soát thương mại; và (iii) cấp độ chuỗi giá trị - thể chế, nơi quyết định mức độ minh bạch, truy xuất, tái chế và phân bổ rủi ro. 

3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên tổng hợp tài liệu thứ cấp và phân tích chính sách so sánh. Nguồn dữ liệu bao gồm: (i) báo cáo và cơ sở phân tích của các tổ chức quốc tế lớn như IEA, IRENA, OECD, IMF, UNCTAD, World Bank; (ii) các bài báo khoa học, công trình tổng quan hệ thống, nghiên cứu trên các tạp chí học thuật và nhà xuất bản quốc tế uy tín; và (iii) văn bản chính sách, pháp luật, chiến lược và quy hoạch của Việt Nam cùng một số khu vực pháp lý quan trọng như Liên minh châu Âu. Giai đoạn phân tích trọng tâm là 2021-2026 nhằm bao quát giai đoạn hậu Covid-19, xung đột Nga-Ukraine, tái cơ cấu thương mại công nghiệp xanh, và sự hình thành các thiết chế carbon - điện lực - đổi mới sáng tạo mới ở Việt Nam.

Về logic phân tích, bài viết kết hợp bốn thao tác. Thứ nhất là tổng hợp và hệ thống hóa nhằm nhận diện các tuyến lập luận lớn trong nghiên cứu quốc tế về chuyển dịch năng lượng. Thứ hai là so sánh, dùng để đối chiếu các cách tiếp cận quản trị giữa những chủ thể lớn như EU và Việt Nam, cũng như so sánh giữa an ninh năng lượng kiểu hóa thạch và an ninh năng lượng kiểu chuyển dịch xanh. Thứ ba là diễn dịch, từ khung lý thuyết về an ninh năng lượng mở rộng và kinh tế chính trị của chuyển dịch xanh để giải thích các hiện tượng thực tiễn. Thứ tư là quy nạp, rút ra các hàm ý chính sách cho Việt Nam từ sự giao thoa giữa bằng chứng quốc tế và bối cảnh quốc gia.

Phương pháp này phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu vì chủ đề đang biến đổi rất nhanh, phụ thuộc mạnh vào dữ liệu cập nhật và thay đổi thể chế, trong khi nhiều vấn đề cốt lõi - như tập trung quyền lực chuỗi giá trị, tác động ESG hay phân bổ lợi ích trong chuyển dịch năng lượng - khó đo lường đầy đủ chỉ bằng mô hình kinh tế lượng. 

4. Phân tích thực trạng về môi trường, địa chính trị và an ninh chuỗi cung ứng trong chuyển dịch năng lượng toàn cầu giai đoạn 2021-2026

4.1. Thách thức môi trường trong chuyển dịch năng lượng toàn cầu từ giảm phát thải carbon đến gia tăng áp lực sinh thái của chuyển dịch vật liệu

Một thực tế ngày càng rõ là chuyển dịch năng lượng là quá trình giảm carbon nhưng lại gia tăng cường độ vật liệu. IEA (2024a) và IEA (2025a) đều nhấn mạnh rằng điện hóa giao thông, mở rộng lưới điện, triển khai điện gió - mặt trời và hệ thống lưu trữ đang kéo theo nhu cầu lớn về đồng, lithium, nickel, cobalt, graphite và đất hiếm. Điều này làm nảy sinh mâu thuẫn cấu trúc: trong khi giảm phát thải đòi hỏi mở rộng nhanh công nghệ sạch, việc mở rộng đó lại đòi hỏi tăng khai thác, tinh luyện và vận chuyển các vật liệu có thể gây phát thải và tổn hại sinh thái đáng kể nếu quản trị yếu kém.

Berthet et al. (2024) cho thấy dấu chân môi trường - xã hội của tiêu dùng khoáng sản phục vụ chuyển dịch xanh ở châu Âu không dừng lại trong biên giới EU mà lan ra các khu vực khai thác ở châu Phi, Nam Mỹ và nhiều không gian thiếu nước khác. Nghiên cứu này chỉ ra nguy cơ sử dụng tới hàng chục triệu mét khối nước trong các lưu vực khan hiếm nước và nguy cơ gia tăng lao động dễ bị tổn thương ở châu Phi nếu các mục tiêu khí hậu được theo đuổi mà thiếu cơ chế kiểm soát đồng bộ. Phát hiện ấy có ý nghĩa rộng hơn trường hợp EU: nó cho thấy công nghệ xanh không “phi vật chất” như nhiều diễn ngôn lạc quan từng giả định; ngược lại, chúng dựa trên một nền tảng khai thác tài nguyên hữu hình, có địa điểm, có cộng đồng chịu tác động và có chi phí sinh thái phân bố không đều.

Carr-Wilson et al. (2024) còn cho thấy trong văn liệu hiện nay, rủi ro ESG được nhắc đến nhiều hơn cơ hội. Các rủi ro đó trải rộng từ suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm và áp lực nước, tới xung đột đất đai, xâm hại quyền cộng đồng bản địa, bất bình đẳng lợi ích và suy yếu “giấy phép xã hội” cho hoạt động khai thác. Càng đáng chú ý hơn, tập trung nghiên cứu vào một vài không gian như tam giác lithium hay cobalt ở CHDC Congo có thể khiến nhiều rủi ro đang nổi lên ở các khu vực khác bị che khuất. Như vậy, về mặt học thuật lẫn chính sách, thách thức môi trường không chỉ là “giảm tác động khai thác” mà còn là mở rộng năng lực đánh giá xuyên chuỗi và xuyên không gian.

Trong giai đoạn 2021-2026, áp lực môi trường còn gắn với một xu hướng khác: thị trường giá xuống của một số khoáng sản không nhất thiết làm giảm rủi ro môi trường, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp và quốc gia xuất khẩu khoáng sản theo đuổi chiến lược tăng sản lượng để bù đắp doanh thu, từ đó làm trầm trọng thêm áp lực lên tài nguyên và cộng đồng. IEA (2024a) ghi nhận giá lithium giảm 75% trong năm 2023 sau giai đoạn tăng nóng, trong khi cobalt, nickel và graphite giảm 30-45%; song sự giảm giá này không làm biến mất áp lực đầu tư vào khai thác mới. Vì thế, bài toán môi trường của chuyển dịch năng lượng không thể tách rời các chu kỳ giá khoáng sản và động lực chính trị - tài khóa của các nước sở hữu tài nguyên.

Từ góc độ quản trị, một thách thức đặc biệt là rủi ro “xanh hóa không công bằng”. Nếu các nền kinh tế nhập khẩu công nghệ sạch đánh giá thành công chỉ bằng tỷ trọng năng lượng tái tạo hay cường độ phát thải giảm xuống trong nước, họ có thể bỏ qua thực tế rằng một phần chi phí môi trường đã bị ngoại chuyển sang các khu vực khai thác ở bên ngoài. Điều đó tạo ra sự lệch pha giữa thành tích khí hậu ở nơi tiêu dùng và gánh nặng sinh thái ở nơi sản xuất. Chính vì vậy, khái niệm chuyển dịch công bằng phải được mở rộng từ phạm vi lao động ngành than - điện sang toàn bộ chuỗi khoáng sản - công nghệ - tái chế phục vụ hệ thống năng lượng mới.

4.2. Thách thức địa chính trị trong chuyển dịch năng lượng toàn cầu như một quá trình tái cấu trúc quyền lực và cạnh tranh công nghiệp xanh

Nếu giai đoạn trước năm 2020 thường nhấn mạnh khía cạnh khí hậu của chuyển dịch năng lượng, thì giai đoạn 2021-2026 chứng kiến sự trở lại rõ nét của địa chính trị và địa kinh tế. Xung đột Nga-Ukraine cho thấy lệ thuộc nhiên liệu hóa thạch có thể nhanh chóng chuyển thành rủi ro chiến lược; nhưng đồng thời, phản ứng của các nền kinh tế lớn cũng cho thấy chuyển dịch xanh đang được sử dụng như công cụ củng cố tự chủ chiến lược, tái lập năng lực sản xuất trong nước và giảm lệ thuộc vào các trung tâm công nghiệp khác. IRENA (2024) gọi đây là sự biến đổi của logic an ninh năng lượng: từ việc bảo vệ các dòng nhiên liệu sang việc bảo đảm khả năng tiếp cận ổn định với công nghệ, nguyên liệu và hạ tầng cho hệ thống điện khí hóa và tái tạo.

Tại cấp độ chính sách, xu hướng này thể hiện qua các chiến lược công nghiệp xanh và luật hóa mục tiêu an ninh vật liệu. Liên minh châu Âu đã đưa Critical Raw Materials Act vào hiệu lực từ ngày 23/5/2024 nhằm bảo đảm nguồn cung đa dạng, an toàn và bền vững cho nguyên liệu thô quan trọng; đồng thời, Net-Zero Industry Act có hiệu lực từ ngày 29/6/2024 với mục tiêu nâng năng lực sản xuất công nghệ net-zero nội khối lên mức tương đương khoảng 40% nhu cầu triển khai hằng năm vào năm 2030 (European Commission, 2024a, 2024b). Điều đó cho thấy chuyển dịch năng lượng ở châu Âu không còn được hiểu đơn thuần như một chương trình môi trường, mà là một chương trình công nghiệp - an ninh - cạnh tranh.

Ở bình diện toàn cầu, xu hướng gia tăng hạn chế xuất khẩu nguyên liệu càng làm nổi bật tính chính trị hóa của chuỗi cung ứng xanh. OECD (2025a, 2025b) cho thấy số lượng biện pháp hạn chế xuất khẩu đối với nguyên liệu công nghiệp đã tăng hơn năm lần kể từ năm 2009 và tăng mạnh trong năm 2023; đối với một số khoáng sản then chốt cho chuyển dịch xanh như cobalt và đất hiếm, tỷ trọng thương mại toàn cầu chịu ít nhất một hạn chế xuất khẩu ở mức rất cao. Điều này có nghĩa là cơ chế thị trường quốc tế đang bị “lớp hóa” bởi các mục tiêu giữ lại giá trị gia tăng nội địa, bảo vệ nguồn cung chiến lược và tái thương lượng vị thế của các nước sở hữu tài nguyên.

Về phương diện học thuật, Kuzemko et al. (2025) cho rằng không thể hiểu chuyển dịch năng lượng nếu chỉ nhìn nó như một quá trình khuếch tán công nghệ hay tối ưu hóa thị trường carbon. Đây là một quá trình tái phân bổ quyền lực, trong đó các nhà nước, doanh nghiệp, định chế tài chính và liên minh khu vực cùng cạnh tranh để kiểm soát các nút chiến lược của chuỗi giá trị. Sự dịch chuyển từ “an ninh dầu khí” sang “an ninh khoáng sản - công nghệ” vì vậy không làm địa chính trị suy giảm, mà chỉ làm nó thay đổi hình thức. Tranh chấp của tương lai có thể ít xoay quanh eo biển và đường ống hơn, nhưng nhiều hơn quanh tiêu chuẩn dữ liệu, nhà máy tinh luyện, công nghệ pin, vật liệu cathode, đất hiếm từ tính và các cơ chế trợ cấp xanh.

Đáng chú ý, địa chính trị của chuyển dịch năng lượng cũng tạo ra những không gian cơ hội mới cho các nền kinh tế đang phát triển. IMF (2024b) và UNCTAD (2026) đều chỉ ra rằng khoáng sản chuyển dịch năng lượng có thể trở thành nền tảng cho công nghiệp hóa mới nếu các nước sở hữu tài nguyên không dừng lại ở xuất khẩu quặng thô mà từng bước xây dựng năng lực tinh luyện, chế biến sâu, tiêu chuẩn ESG và liên kết với các ngành sản xuất. Tuy nhiên, cơ hội này đi kèm rủi ro lớn: nếu thiết kế chính sách yếu, các nước đang phát triển có thể bị “khóa” vào vai trò cung ứng tài nguyên thô trong khi phần lớn giá trị gia tăng, công nghệ và quyền thiết lập tiêu chuẩn vẫn thuộc về các trung tâm công nghiệp lớn.

4.3. An ninh chuỗi cung ứng trước các điểm nghẽn tập trung, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và đòi hỏi nâng cao năng lực chống chịu

Dấu ấn nổi bật nhất của giai đoạn 2021-2026 là chuyển dịch năng lượng đã bước vào thời kỳ mà an ninh chuỗi cung ứng trở thành biến số chiến lược ngang hàng với mục tiêu giảm phát thải. IEA (2025a) cho thấy, mặc dù thị trường khoáng sản quan trọng hiện tại có vẻ được cung ứng tương đối dồi dào, nhưng đó có thể là tín hiệu gây ảo giác. Theo các dự án đã công bố, đến năm 2030 khoảng 70-75% tăng trưởng cung tinh luyện lithium, nickel, cobalt và đất hiếm vẫn đến từ ba nhà sản xuất hàng đầu hiện nay; riêng đối với graphite cấp pin, gần 95% tăng trưởng nguồn cung dự kiến đến từ Trung Quốc. Đối với graphite cấp pin và đất hiếm tinh luyện, mức độ tập trung đặc biệt cao đặt ra rủi ro nghiêm trọng cho toàn bộ chuỗi công nghệ sạch.

Khía cạnh đáng lo ngại hơn là sự tập trung không chỉ nằm ở khai thác mà còn ở khâu tinh luyện, nơi giá trị gia tăng cao hơn và khả năng tạo ra sức mạnh cấu trúc lớn hơn. IEA (2024a) chỉ ra rằng hơn 90% graphite cấp pin và 77% đất hiếm tinh luyện năm 2030 có thể vẫn bắt nguồn từ Trung Quốc nếu không có nỗ lực đa dạng hóa mạnh mẽ hơn. Phân tích “N-1” của IEA (2024a) cho thấy nếu loại bỏ nước cung ứng lớn nhất đối với mỗi khoáng sản, lượng cung còn lại sẽ thiếu hụt đáng kể so với nhu cầu; với graphite, lượng cung “N-1” chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu. Điều này cho thấy khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng hiện vẫn thấp dù đầu tư toàn cầu vào năng lượng sạch tăng rất nhanh.

Bên cạnh tập trung địa lý, độ trễ phát triển dự án và khó khăn huy động vốn cũng là điểm nghẽn lớn. IEA (2024a) nhận định nguồn cung đồng và lithium từ các dự án đã công bố đến năm 2035 chỉ đáp ứng khoảng 70% và 50% nhu cầu trong kịch bản phù hợp với các cam kết chính sách đã công bố. Nghĩa là ngay cả khi xét trên các dự án “nhìn thấy được”, khoảng trống cung - cầu vẫn rất đáng kể. Sự chậm trễ trong cấp phép môi trường, phản đối xã hội, hạn chế cơ sở hạ tầng, chất lượng quặng suy giảm và biến động giá đều có thể biến an ninh chuỗi cung ứng thành nút thắt của tốc độ chuyển dịch năng lượng.

Một chiều cạnh khác của an ninh chuỗi cung ứng là minh bạch và truy xuất nguồn gốc. IEA và OECD (2025) khẳng định rằng các hệ thống truy xuất cần thu thập và truyền tải dữ liệu về xuất xứ, tuyến địa lý, chain-of-custody và sự biến đổi vật chất của khoáng sản theo thời gian; khi được tích hợp với quy trình thẩm định rủi ro, các hệ thống này có thể gắn thêm thông tin ESG và hỗ trợ nhà nước, doanh nghiệp quản lý rủi ro chuỗi cung ứng. Từ góc độ chính sách, đây là chỗ gặp nhau giữa an ninh và bền vững: chuỗi cung ứng chỉ thật sự an toàn khi các mắt xích của nó vừa đa dạng hơn, vừa minh bạch hơn, có khả năng kiểm chứng hơn và ít tổn thương hơn trước rủi ro môi trường - xã hội.

Sự nổi lên của truy xuất nguồn gốc cũng làm thay đổi phương thức quản trị chuỗi giá trị. Trong mô hình cũ, các doanh nghiệp hạ nguồn thường chỉ quan tâm tới giá và khối lượng. Trong mô hình mới, thông tin về dấu chân carbon, dấu chân nước, điều kiện lao động, quyền cộng đồng và nguồn gốc khoáng sản có thể trở thành điều kiện tiếp cận thị trường. Điều này đồng nghĩa với việc dữ liệu và năng lực số trở thành tài sản chiến lược. Trong tương lai gần, ứng dụng AI, phân tích dữ liệu lớn, cảm biến, vệ tinh và sổ cái số có thể hỗ trợ giám sát chuỗi cung ứng, phát hiện bất thường, dự báo gián đoạn, tối ưu hóa tồn kho và xác thực tuân thủ; nhưng hiệu quả của chúng phụ thuộc vào chuẩn dữ liệu, khả năng chia sẻ thông tin an toàn và thể chế giám sát đáng tin cậy hơn là phụ thuộc vào công nghệ riêng lẻ.

Do đó, an ninh chuỗi cung ứng của chuyển dịch năng lượng cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn “đủ hàng”. Nó bao gồm ít nhất năm yếu tố: đa dạng nguồn cung; năng lực tinh luyện và chế tạo phân tán hợp lý; tính minh bạch và truy xuất; khả năng hấp thụ cú sốc của logistics, giá và thời tiết cực đoan; và năng lực tuần hoàn thông qua tái chế, thay thế vật liệu và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Khi năm yếu tố này chưa được bảo đảm, tốc độ triển khai năng lượng sạch có thể tăng nhưng độ bền vững của nó lại giảm.

4.4. Đánh giá chung

Phân tích giai đoạn 2021-2026 cho thấy một số kết quả tích cực. Thứ nhất, chuyển dịch năng lượng đã từ trạng thái diễn ngôn sang trạng thái kiến tạo thể chế và công nghiệp: các chiến lược lớn của EU, các cơ chế JETP, quy hoạch điện, hydrogen và thị trường carbon ở Việt Nam cho thấy xu hướng điều phối chính sách ngày càng rõ (European Commission, 2024a, 2024b; Thủ tướng Chính phủ, 2023b, 2025b, 2026a). Thứ hai, nhận thức về rủi ro ESG và truy xuất nguồn gốc đã tiến bộ đáng kể, làm nền tảng cho quản trị chuỗi cung ứng có trách nhiệm hơn. Thứ ba, chuyển dịch năng lượng đã tạo động lực mới cho đổi mới công nghệ, tái chế, lưu trữ, số hóa lưới điện và tìm kiếm vật liệu thay thế (IEA, 2024b, 2025a).

Tuy vậy, các hạn chế vẫn rất lớn. Một là, sự tập trung công suất khai thác - tinh luyện và xu hướng hạn chế xuất khẩu làm cho chuỗi cung ứng xanh dễ tổn thương hơn kỳ vọng ban đầu. Hai là, khung chính sách toàn cầu vẫn thiếu sự hài hòa giữa mục tiêu khí hậu, thương mại và phát triển; nhiều công cụ hỗ trợ công nghiệp xanh có nguy cơ làm sâu thêm phân mảnh thị trường và cạnh tranh trợ cấp. Ba là, tiêu chí chuyển dịch công bằng chưa được nội hóa đầy đủ trong thiết kế chuỗi giá trị; vẫn còn khoảng cách lớn giữa tăng tốc triển khai công nghệ và bảo đảm công bằng môi trường cho các cộng đồng khai thác. Bốn là, nhiều quốc gia đang phát triển đứng trước nghịch lý vừa phải tăng nhanh điện sạch, vừa bị ràng buộc bởi hạ tầng lưới yếu, chi phí vốn cao, phụ thuộc nhập khẩu thiết bị và thiếu năng lực công nghiệp hỗ trợ.

Cơ hội của giai đoạn mới nằm ở khả năng tái thiết kế chuỗi giá trị xanh theo hướng đa trung tâm, tuần hoàn hơn và minh bạch hơn. UNCTAD (2026) nhấn mạnh rằng khoáng sản chuyển dịch năng lượng có thể trở thành động lực chuyển đổi cơ cấu nếu gắn với chính sách công nghiệp, đào tạo nhân lực, nâng cấp logistics, điện - nước - số và cơ chế chia sẻ giá trị công bằng. Với Việt Nam, cơ hội nằm ở việc tận dụng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu để phát triển công nghiệp thiết bị điện, lưới điện, dịch vụ năng lượng, logistics xanh, tín chỉ carbon, hydrogen và công nghệ số cho quản trị năng lượng.

Thách thức lớn nhất là phải tránh hai cực đoan. Một cực đoan là “duy môi trường”, coi chỉ cần tăng nhanh tỷ trọng năng lượng tái tạo là đủ mà bỏ qua rủi ro vật liệu, chuỗi cung ứng và công bằng xã hội. Cực đoan kia là “duy an ninh”, chạy theo nội địa hóa hoặc kiểm soát chiến lược bằng mọi giá, dẫn đến phân mảnh, kém hiệu quả và có thể làm chậm chính tiến trình giảm phát thải. Mô hình quản trị tối ưu phải cân bằng được ba mục tiêu: bền vững môi trường, tự chủ chiến lược hợp lý và hiệu quả phát triển.

5. Hàm ý chính sách cho Việt Nam

5.1. Hàm ý chung đối với quản trị chuyển dịch năng lượng toàn cầu
 

Một là, cần chuyển trọng tâm từ “triển khai công nghệ sạch nhanh” sang “triển khai có khả năng chống chịu”. Điều này có nghĩa là khi thiết kế chính sách năng lượng, các chính phủ không thể chỉ quan tâm đến công suất lắp đặt hay cường độ phát thải, mà phải tích hợp đánh giá chuỗi cung ứng, rủi ro địa chính trị và tác động môi trường - xã hội xuyên biên giới. Các tiêu chí an ninh chuỗi cung ứng cần được đưa vào quy hoạch hạ tầng, chương trình hỗ trợ công nghiệp xanh và mua sắm công.

Hai là, cần xây dựng một kiến trúc hợp tác quốc tế cân bằng hơn cho khoáng sản chuyển dịch năng lượng. Đa dạng hóa nguồn cung không thể chỉ được hiểu là “dịch chuyển phụ thuộc từ nước A sang nước B”, mà phải gắn với nâng chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội, minh bạch hợp đồng và cơ chế chia sẻ giá trị với nước sở hữu tài nguyên. Nếu không, đa dạng hóa chỉ tái sản xuất mô hình khai thác ngoại vi cũ dưới vỏ bọc công nghệ xanh. OECD (2025a) và IEA & OECD (2025) cho thấy hợp tác tiêu chuẩn, truy xuất và dữ liệu là những trụ cột không thể thiếu của mô hình này.

Ba là, chính sách chuỗi cung ứng xanh cần coi tuần hoàn vật liệu là một trụ cột chiến lược chứ không phải phần bổ sung thứ yếu. Tái chế pin, thu hồi kim loại, thiết kế sản phẩm dễ tháo rời, thay thế vật liệu và nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên vừa làm giảm áp lực lên khai thác sơ cấp, vừa nâng cao an ninh cung ứng. IEA (2024b) nhấn mạnh rằng đổi mới trong khai thác, tinh luyện và tái chế sẽ quyết định mức độ đa dạng hóa nguồn cung trong trung và dài hạn.

Bốn là, cần phát triển hạ tầng số và ứng dụng AI cho quản trị chuỗi cung ứng năng lượng sạch theo hướng thực chất. AI có thể hỗ trợ dự báo nhu cầu vật liệu, nhận diện sớm điểm nghẽn logistics, giám sát rủi ro ESG, tối ưu hóa bảo trì lưới điện và phân tích kịch bản chính sách. Tuy nhiên, AI chỉ có giá trị khi đi cùng cơ sở dữ liệu chuẩn hóa, liên thông, có khả năng xác minh và khuôn khổ pháp lý rõ ràng về chia sẻ dữ liệu, trách nhiệm giải trình và an ninh mạng.

5.2. Hàm ý chính sách và giải pháp

Một là, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung thể chế điện lực và chuyển dịch năng lượng theo hướng đồng bộ giữa mục tiêu an ninh cung ứng, giảm phát thải và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị xanh. Luật Điện lực 2024 có hiệu lực từ 1/2/2025 đã mở rộng nền tảng pháp lý cho phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới và thị trường điện cạnh tranh; Nghị định 80/2024/NĐ-CP về cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn là bước tiến quan trọng để hình thành thị trường tiêu dùng điện xanh theo tín hiệu hợp đồng dài hạn (Chính phủ, 2024a; Quốc hội, 2024). Tuy nhiên, để cơ chế này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện quy định về đấu nối, truyền tải, dữ liệu đo đếm, chia sẻ chi phí lưới và giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Hai là, việc điều chỉnh Quy hoạch điện VIII tại Quyết định 768/QĐ-TTg năm 2025 cần được triển khai gắn với tư duy an ninh chuỗi cung ứng, không chỉ là cơ cấu nguồn điện. Điều đó đòi hỏi ưu tiên đầu tư lưới truyền tải, lưu trữ, thiết bị điều độ, hạ tầng số và công nghiệp hỗ trợ cho điện gió, điện mặt trời, pin, thiết bị điện và dịch vụ kỹ thuật. Nếu chỉ mở rộng công suất nguồn mà không đồng thời củng cố lưới, linh kiện, dịch vụ vận hành và bảo trì, Việt Nam có thể rơi vào trạng thái “lắp đặt nhanh nhưng phụ thuộc sâu” (Thủ tướng Chính phủ, 2025b).

Ba là, Việt Nam cần xem thị trường carbon như một cấu phần của năng lực cạnh tranh công nghiệp xanh chứ không chỉ là công cụ môi trường. Quyết định 232/QĐ-TTg năm 2025 phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam, Nghị định 119/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 06/2022/NĐ-CP, Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước và Quyết định 263/QĐ-TTg năm 2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025-2026 đã tạo ra một trục thể chế rất quan trọng cho kinh tế carbon thấp (Chính phủ, 2025a, 2026b; Thủ tướng Chính phủ, 2025a, 2026a). Vấn đề hiện nay là phải bảo đảm tính minh bạch MRV, phối hợp giữa cơ quan môi trường - tài chính - năng lượng - chứng khoán, và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển năng lực tuân thủ, giao dịch và đầu tư giảm phát thải.

Bốn là, Việt Nam cần gắn chuyển dịch năng lượng với chiến lược đổi mới sáng tạo quốc gia. Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024, Nghị quyết 193/2025/QH15 và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp làm chủ công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong thử nghiệm và thúc đẩy hạ tầng dữ liệu - số (Bộ Chính trị, 2024; Quốc hội, 2025a, 2025b). Trong lĩnh vực năng lượng, điều này cần được cụ thể hóa bằng các chương trình trọng điểm về lưu trữ, hydrogen xanh, lưới điện thông minh, trí tuệ nhân tạo cho dự báo phụ tải - nguồn tái tạo, tái chế pin và vật liệu mới.

Năm là, Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen theo Quyết định 165/QĐ-TTg năm 2024 cần được triển khai theo cách tránh lặp lại mô hình phát triển công nghiệp tách rời hạ tầng và thị trường. Hydrogen chỉ trở thành cơ hội thực chất nếu gắn với các cụm công nghiệp tiêu thụ lớn, hạ tầng điện tái tạo đủ mạnh, tiêu chuẩn chứng nhận xanh, logistics phù hợp và khung hỗ trợ đầu tư rõ ràng. Nếu triển khai dàn trải, hydrogen có thể trở thành lĩnh vực tốn kém nhưng hiệu quả thấp.

Sáu là, về đối ngoại kinh tế, Việt Nam cần theo đuổi chiến lược “đa phương hóa chuỗi giá trị xanh”. Thay vì phụ thuộc vào một thị trường hoặc một đối tác công nghệ, Việt Nam nên đồng thời mở rộng hợp tác với nhiều trung tâm tài chính - công nghệ - thiết bị, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, tiêu chuẩn ESG và khả năng tham gia sâu hơn vào các mắt xích giá trị cao. JETP, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, và các diễn đàn hợp tác về chuyển dịch năng lượng cần được khai thác không chỉ cho mục tiêu huy động vốn, mà còn cho mục tiêu nâng cấp năng lực thể chế và công nghiệp.

5.3. Nhóm giải pháp thực thi

Một là, về thể chế, cần xây dựng cơ chế điều phối liên ngành cấp cao về an ninh chuỗi cung ứng của chuyển dịch năng lượng, kết nối các lĩnh vực điện lực, công nghiệp, khoáng sản, thương mại, logistics, môi trường, khoa học công nghệ và tài chính xanh. Cơ chế này phải có chức năng không chỉ giám sát thực hiện quy hoạch mà còn theo dõi rủi ro thị trường, gián đoạn cung ứng và thay đổi chính sách quốc tế.

Hai là, về dữ liệu và công nghệ quản trị, cần hình thành hệ thống dữ liệu tích hợp về năng lượng - phát thải - thiết bị - chuỗi cung ứng. Trên nền dữ liệu đó, có thể phát triển các ứng dụng AI phục vụ dự báo nhu cầu điện, sản lượng tái tạo, bảo trì dự báo cho lưới điện, giám sát tuân thủ carbon, phân tích rủi ro nhập khẩu thiết bị và mô phỏng kịch bản chính sách. Việc phát triển các nền tảng dữ liệu này cần bám sát tinh thần chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo mà Nghị quyết 57-NQ/TW và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đặt ra.

Ba là, về tài chính, cần thúc đẩy các công cụ chia sẻ rủi ro cho hạ tầng lưới điện, lưu trữ, điện tái tạo ngoài khơi, hydrogen và các dự án giảm phát thải có chi phí vốn lớn. Bên cạnh vốn ngân sách và ODA, cần mở rộng huy động trái phiếu xanh, tín dụng chuyển đổi, blended finance và cơ chế bảo lãnh rủi ro chính sách có chọn lọc. Việc ưu tiên đầu tư công nên hướng vào các hạ tầng công cộng có tính mở khóa cho khu vực tư nhân như lưới điện truyền tải, cảng chuyên dụng, logistics và hạ tầng số.

Bốn là, về công nghiệp, cần phát triển các cụm liên kết ngành phục vụ chuyển dịch năng lượng, trong đó doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chế tạo thiết bị điện, kết cấu, cáp, phần mềm điều độ, dịch vụ bảo trì, tái chế và quản trị carbon. Chính sách nội địa hóa nên mang tính chọn lọc, dựa trên lợi thế so sánh động và khả năng liên kết với thị trường quốc tế, tránh tư duy thay thế nhập khẩu cứng nhắc.

Năm là, về môi trường và công bằng xã hội, mọi dự án năng lượng và dự án liên quan đến chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược cần được đánh giá theo chuẩn cao hơn về nước, đa dạng sinh học, sinh kế và tham vấn cộng đồng. Chuyển dịch năng lượng chỉ bền vững khi cơ chế phân bổ lợi ích, hỗ trợ tái định cư, bù đắp sinh kế và giám sát hậu dự án được thực hiện nghiêm túc, minh bạch và có trách nhiệm giải trình.

6. Kết luận 

Chuyển dịch năng lượng toàn cầu trong giai đoạn 2021-2026 cho thấy một sự thật quan trọng: đây không chỉ là quá trình thay thế nguồn năng lượng, mà là quá trình tái tổ chức lại nền kinh tế chính trị của tăng trưởng xanh. Khi hệ thống năng lượng chuyển từ carbon sang điện khí hóa và công nghệ sạch, rủi ro không biến mất mà dịch chuyển hình thái: từ lệ thuộc dầu khí sang lệ thuộc khoáng sản, từ điểm nghẽn nhiên liệu sang điểm nghẽn tinh luyện - dữ liệu - logistics, từ tranh chấp tài nguyên truyền thống sang cạnh tranh công nghiệp và tiêu chuẩn chuỗi cung ứng xanh. Vì vậy, mọi chiến lược chuyển dịch năng lượng nếu chỉ đo bằng công suất lắp đặt hay lượng phát thải giảm được sẽ là chưa đủ.

Bài viết cho thấy ba nhóm thách thức đang đan xen và khuếch đại lẫn nhau. Thách thức môi trường phát sinh từ cường độ vật liệu và tác động sinh thái - xã hội của khai thác khoáng sản; thách thức địa chính trị đến từ cạnh tranh kiểm soát chuỗi giá trị, trợ cấp công nghiệp và hạn chế thương mại; còn thách thức an ninh chuỗi cung ứng nằm ở sự tập trung cao của khai thác - tinh luyện, độ trễ đầu tư, thiếu minh bạch và khả năng chống chịu còn thấp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu khẳng định yêu cầu chuyển từ tiếp cận “mở rộng công suất” sang tiếp cận “xây dựng hệ sinh thái chuyển dịch có khả năng chống chịu, minh bạch và công bằng”.

Đối với Việt Nam, ý nghĩa chiến lược không chỉ nằm ở việc tăng tỷ trọng năng lượng sạch mà còn ở việc chủ động định vị trong các chuỗi giá trị xanh mới. Khung chính sách từ Luật Điện lực 2024, Nghị định 80/2024/NĐ-CP, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, Chiến lược hydrogen, đến các thiết chế thị trường carbon và thể chế đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đã mở ra nền tảng đáng kể. Vấn đề quyết định hiện nay là năng lực thực thi liên ngành, chất lượng dữ liệu, năng lực doanh nghiệp, độ mở của hạ tầng lưới và khả năng kết hợp giữa an ninh năng lượng với an ninh chuỗi cung ứng xanh.

Tài liệu tham khảo
 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2020). Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/

Berthet, E., Lavalley, J., Anquetil-Deck, C., Ballesteros, F., Stadler, K., Soytas, U., Hauschild, M., & Laurent, A. (2024). Assessing the social and environmental impacts of critical mineral supply chains for the energy transition in Europe. Global Environmental Change, 87, 102841. https://doi.org/10.1016/j.gloenvcha.2024.102841

Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/

Carr-Wilson, S., Pattanayak, S. K., & Weinthal, E. (2024). Critical mineral mining in the energy transition: A systematic review of environmental, social, and governance risks and opportunities. Energy Research & Social Science, 116, 103672. https://doi.org/10.1016/j.erss.2024.103672

Chính phủ. (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn. https://vanban.chinhphu.vn/

Chính phủ. (2024a). Nghị định số 80/2024/NĐ-CP ngày 03/07/2024 quy định về cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn. https://vanban.chinhphu.vn/

Chính phủ. (2025a). Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/06/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn. https://vanban.chinhphu.vn/

Chính phủ. (2026b). Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 về sàn giao dịch các-bon trong nước. https://vanban.chinhphu.vn/

European Commission. (2024a). Critical Raw Materials Act. https://single-market-economy.ec.europa.eu/sectors/raw-materials/areas-specific-interest/critical-raw-materials/critical-raw-materials-act_en

European Commission. (2024b). Net-Zero Industry Act.

https://commission.europa.eu/topics/competitiveness/green-deal-industrial-plan/net-zero-industry-act_en

IEA. (2021). The role of critical minerals in clean energy transitions. IEA. https://www.iea.org/reports/the-role-of-critical-minerals-in-clean-energy-transitions

IEA. (2024a). Global Critical Minerals Outlook 2024. IEA. https://www.iea.org/reports/global-critical-minerals-outlook-2024

IEA. (2024b). Energy Technology Perspectives 2024. IEA. https://www.iea.org/reports/energy-technology-perspectives-2024

IEA. (2025a). Global Critical Minerals Outlook 2025. IEA. https://www.iea.org/reports/global-critical-minerals-outlook-2025

IEA, & OECD. (2025). The role of traceability in critical mineral supply chains. IEA/OECD. https://www.oecd.org/en/publications/the-role-of-traceability-in-critical-mineral-supply-chains_edb0a451-en.html

IMF. (2024a). Energy security and the green transition (WP/24/6). International Monetary Fund. https://www.imf.org/-/media/files/publications/wp/2024/english/wpiea2024006-print-pdf.pdf

IMF. (2024b). Digging for opportunity: Harnessing Sub-Saharan Africa’s wealth in critical minerals. In Regional Economic Outlook: Sub-Saharan Africa. International Monetary Fund. https://www.imf.org/-/media/files/publications/reo/afr/2024/april/english/mineralsnote.pdf

IRENA. (2024). Geopolitics of the energy transition: Energy security. International Renewable Energy Agency. https://www.irena.org/-/media/Files/IRENA/Agency/Publication/2024/Apr/IRENA_Geopolitics_transition_energy_security_2024.pdf

Kuzemko, C., Blondeel, M., Bradshaw, M., Bridge, G., Faigen, E., & Fletcher, L. (2025). Rethinking energy geopolitics: Towards a geopolitical economy of global energy transformation. Geopolitics, 30(2), 531-565. https://doi.org/10.1080/14650045.2024.2351075

OECD. (2025a). Export restrictions on critical raw materials. https://www.oecd.org/en/topics/sub-issues/export-restrictions-on-critical-raw-materials.html

OECD. (2025b). OECD inventory of export restrictions on industrial raw materials 2025. OECD. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2025/05/oecd-inventory-of-export-restrictions-on-industrial-raw-materials-2025_a16b8932/facc714b-en.pdf

Quốc hội. (2024). Luật số 61/2024/QH15: Luật Điện lực. https://vanban.chinhphu.vn/

Quốc hội. (2025a). Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://vanban.chinhphu.vn/

Quốc hội. (2025b). Luật số 93/2025/QH15: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. https://vanban.chinhphu.vn/

Riggs, R. A., Della Bosca, H., Kenter, J. O., Lele, S., Muradian, R., Pascual, U., Stenseke, M., & Colloff, M. J. (2025). Grounding critical minerals in values-centred approaches for just sustainability transitions. Sustainability Science. https://doi.org/10.1007/s11625-025-01726-3

Thủ tướng Chính phủ. (2023a). Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/05/2023 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/

Thủ tướng Chính phủ. (2023b). Quyết định số 1009/QĐ-TTg ngày 31/08/2023 phê duyệt Đề án triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng. https://vanban.chinhphu.vn/

Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/

Thủ tướng Chính phủ. (2025a). Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam. https://vanban.chinhphu.vn/

Thủ tướng Chính phủ. (2025b). Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/04/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/

Thủ tướng Chính phủ. (2026a). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025-2026. https://vanban.chinhphu.vn/

UNCTAD. (2026). Critical minerals, critical decisions: Industrial policy for the energy transition. United Nations Conference on Trade and Development. https://unctad.org/publication/critical-minerals-critical-decisions-industrial-policy-energy-transition

UNFCCC. (2024). COP28: What was achieved and what happens next? https://unfccc.int/cop28/5-key-takeaways

Woodley, L., See, C. Y., Cook, P., Yeo, M., Palmer, D. S., Huh, L., Wang, S., & Nunes, A. (2024). Climate impacts of critical mineral supply chain bottlenecks for electric vehicle deployment. Nature Communications, 15, 6813. https://doi.org/10.1038/s41467-024-51152-9

World Bank. (n.d.). Climate-Smart Mining Initiative. https://www.worldbank.org/en/programs/climate-smart-mining
 

Đăng ký đặt báo