Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở việt nam: thành tựu, vấn đề đặt ra và định hướng phát triển bền vững

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là bộ ba có quan hệ hữu cơ, giữ vai trò chiến lược trong sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Qua hơn một thập kỷ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới, khu vực nông thôn Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn nhưng cũng đang đối mặt không ít thách thức. Việc đánh giá toàn diện thành tựu, nhận diện nút thắt là nền tảng định hình chiến lược phát triển bứt phá, bền vững.
anh-mo-ta-17-1787302602.jpg
Ảnh minh hoạ (khai thác từ Internet).

Tóm tắt: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn tập trung hoàn thiện kết cấu hạ tầng và các tiêu chí cơ bản sang giai đoạn nâng cao chất lượng, phát triển sinh kế, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn hiện đại, sinh thái, văn minh. Bài viết kế thừa những luận điểm thực tiễn của nghiên cứu về mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, đồng thời cập nhật các chủ trương, chính sách và kết quả thực hiện đến năm 2025. Kết quả cho thấy, đến giữa năm 2025, 79,3% số xã trên cả nước đạt chuẩn nông thôn mới; 42,2% đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 12,3% đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Những kết quả này cho thấy chương trình đã chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng và tính bền vững. Tuy nhiên, chênh lệch vùng miền, chất lượng sinh kế, liên kết chuỗi giá trị, môi trường nông thôn, năng lực quản trị và nguy cơ duy trì tiêu chí sau công nhận vẫn là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và giải quyết.

Từ khóa: nông nghiệp; nông dân; nông thôn; nông thôn mới; phát triển bền vững; kinh tế xanh; chuyển đổi số.

Abstract: Vietnam’s new rural development program has shifted from a primary focus on completing infrastructure and basic criteria toward improving quality of life, developing livelihoods, promoting digital transformation, protecting the environment, and building modern, ecological, and civilized rural areas. This paper builds on the practical perspectives of previous research on the relationship among agriculture, farmers, and rural areas in the new rural development process, while updating relevant policies, orientations, and implementation results through 2025. The findings show that, by mid-2025, 79.3% of communes nationwide had met the new rural development standards; 42.2% had achieved advanced new rural development standards, and 12.3% had achieved model new rural development standards. These results demonstrate a significant shift from extensive development toward improving quality and sustainability. However, regional disparities, livelihood quality, value-chain linkages, the rural environment, governance capacity, and the risk of maintaining standards after recognition remain issues requiring further research and effective solutions.

Keywords: agriculture; farmers; rural areas; new rural development; sustainable development; green economy; digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có mối quan hệ hữu cơ, tạo thành một chỉnh thể kinh tế - xã hội có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình phát triển đất nước. Bản thảo nghiên cứu ban đầu đã xác định đúng trọng tâm khi đặt người nông dân vào vị trí chủ thể và xem xây dựng nông thôn mới không chỉ là đầu tư kết cấu hạ tầng mà còn là quá trình tổ chức lại đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội ở nông thôn.

Sau hơn một thập niên, bối cảnh phát triển đã thay đổi sâu sắc. Nếu giai đoạn đầu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tập trung nhiều vào quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế và cơ sở vật chất văn hóa, thì giai đoạn hiện nay đặt ra những yêu cầu cao hơn: nâng cao thu nhập và chất lượng sống, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng chuỗi giá trị, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp sinh thái.

Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/2/2022 đã xác lập khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025, trong đó đặt mục tiêu ít nhất 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, khoảng 40% xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và ít nhất 10% xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

Đồng thời, Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chuyển trọng tâm chiến lược sang xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, với mục tiêu nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn.

Vì vậy, việc nhìn nhận lại mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới sau năm 2025.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp chính sách và đối chiếu số liệu. Nguồn tư liệu gồm bản nghiên cứu nền, các nghị quyết của Đảng, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước và các số liệu cập nhật về xây dựng nông thôn mới.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung vào ba nhóm vấn đề: (1) đánh giá sự chuyển biến của xây dựng nông thôn mới; (2) phân tích vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong giai đoạn mới; (3) đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của Chương trình.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Từ xây dựng nông thôn mới về lượng sang phát triển nông thôn về chất

Giai đoạn đầu triển khai Chương trình cho thấy một xuất phát điểm còn thấp. Đến năm 2013, cả nước mới có 185 xã đạt đủ 19 tiêu chí, tương đương 2,05%; bình quân đạt 8,62 tiêu chí/xã. Đây là những con số phản ánh rõ những khó khăn của thời kỳ đầu và đồng thời cho thấy quy mô của nhiệm vụ đặt ra lúc đó.

Sau hơn một thập niên, diện mạo chương trình đã thay đổi căn bản. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến giữa năm 2025 cả nước có 6.084/7.669 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương 79,3%; 2.567 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, tương đương 42,2%; 743 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, tương đương 12,2%. Bình quân cả nước đạt 17,5 tiêu chí/xã. Đồng thời, 329/646 đơn vị cấp huyện thuộc 60 tỉnh, thành phố đã được công nhận hoàn thành nhiệm vụ hoặc đạt chuẩn nông thôn mới.

Như vậy, nếu năm 2013 vấn đề nổi bật là mở rộng số lượng xã đạt tiêu chí thì đến năm 2025, vấn đề quan trọng hơn là chất lượng và khả năng duy trì kết quả.

Đây là sự chuyển đổi có ý nghĩa về phương thức tiếp cận: xây dựng nông thôn mới không còn được hiểu đơn thuần là hoàn thành một bộ tiêu chí hành chính, mà phải trở thành quá trình phát triển liên tục, trong đó người dân thực sự là chủ thể và chất lượng sống là thước đo cuối cùng.

3.2. Nông nghiệp phải trở thành nền tảng kinh tế của nông thôn mới

Một trong những hạn chế được bản thảo gốc chỉ ra khá sớm là sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, chất lượng chưa ổn định, chi phí đầu vào cao, thị trường thiếu ổn định và người sản xuất dễ chịu tổn thương trước biến động giá cả. Những vấn đề đó đến nay vẫn còn giá trị, nhưng đã xuất hiện thêm các yêu cầu mới. Nông nghiệp không thể chỉ hướng tới tăng sản lượng mà phải chuyển sang mô hình tạo giá trị gia tăng cao, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải.

Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định rõ định hướng phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, bền vững và nâng cao chất lượng đời sống cư dân nông thôn.

Do đó, xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay cần gắn chặt với: phát triển nông nghiệp sinh thái; nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp tuần hoàn; ứng dụng công nghệ số; truy xuất nguồn gốc; chế biến sâu; phát triển thương hiệu nông sản; liên kết hợp tác xã - doanh nghiệp - nông dân; phát triển OCOP và kinh tế nông thôn; giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, phải chuyển từ tư duy “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất theo nhu cầu thị trường”. Giá trị của nông sản không chỉ nằm ở khối lượng mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng, tiêu chuẩn, thương hiệu, khả năng truy xuất và mức độ đáp ứng yêu cầu của thị trường.

3.3. Nông dân là chủ thể, không chỉ là đối tượng thụ hưởng

Một điểm có giá trị lâu dài trong bản thảo gốc là quan điểm coi nông dân là chủ thể của quá trình xây dựng nông thôn mới. Người dân vừa tham gia sản xuất, vừa tham gia xây dựng cộng đồng và trực tiếp thụ hưởng thành quả phát triển.

Tuy nhiên, khái niệm “nông dân là chủ thể” trong giai đoạn mới cần được cụ thể hóa hơn. Người nông dân hiện đại không chỉ cần kỹ năng sản xuất mà còn phải có khả năng tiếp cận thị trường, sử dụng công nghệ, quản lý tài chính, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và tham gia chuỗi giá trị. Điều đó đòi hỏi chuyển mạnh từ đào tạo kỹ thuật đơn thuần sang phát triển năng lực kinh tế của nông dân.

Các mô hình hộ sản xuất hàng hóa, trang trại, hợp tác xã và liên kết doanh nghiệp cần được xem là những cấu trúc quan trọng giúp người nông dân khắc phục hạn chế của sản xuất nhỏ. Đồng thời, cần khuyến khích lớp nông dân trẻ, nông dân số và lực lượng lao động có trình độ trở về nông thôn khởi nghiệp, phát triển sản phẩm mới và tổ chức các mô hình kinh tế hiện đại.

3.4. Nông thôn mới phải gắn với kinh tế xanh và chuyển đổi số

Một điểm khác biệt căn bản giữa giai đoạn đầu và giai đoạn hiện nay là yêu cầu về môi trường và công nghệ. Chương trình giai đoạn 2021–2025 đã chú trọng hơn đến chất lượng môi trường, cảnh quan, chuyển đổi số và phát triển kinh tế nông thôn. Thực tế triển khai cho thấy nhiều địa phương đã bắt đầu ứng dụng nền tảng số trong quản lý, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và quảng bá sản phẩm.

Chuyển đổi số vì thế không nên chỉ được nhìn nhận là số hóa thủ tục hành chính. Trong nông thôn mới, chuyển đổi số phải trở thành công cụ nâng cao năng lực sản xuất và quản trị: từ dữ liệu đất đai, vùng trồng, thời tiết, dịch bệnh đến truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và kết nối thị trường.

Song song với đó, phát triển nông thôn phải chuyển từ mô hình tiêu thụ nhiều tài nguyên sang mô hình tiết kiệm tài nguyên và tuần hoàn chất thải. Phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi và chế biến cần được coi là nguồn nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, năng lượng sinh khối hoặc các sản phẩm có giá trị khác.

3.5. Những vấn đề mới đặt ra

Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, xây dựng nông thôn mới vẫn tồn tại một số thách thức. Thứ nhất, chênh lệch vùng miền vẫn lớn. Những địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khó khăn hơn, nên chi phí để đạt và duy trì tiêu chí cao hơn.

Thứ hai, nguy cơ chạy theo thành tích vẫn cần được kiểm soát. Bản thảo gốc đã cảnh báo hiện tượng đầu tư công trình chưa phù hợp nhu cầu thực tế và việc huy động đóng góp của người dân quá mức. Đây vẫn là bài học quan trọng: mọi tiêu chí phải hướng tới lợi ích thực chất của cộng đồng, không biến xây dựng nông thôn mới thành cuộc chạy đua về hình thức.

Thứ ba, chất lượng sinh kế cần được đặt ở vị trí trung tâm. Một xã đạt chuẩn nhưng thu nhập của người dân thấp, việc làm thiếu ổn định hoặc người trẻ phải rời quê tìm việc thì tính bền vững của mô hình cần được xem xét lại.

Thứ tư, môi trường nông thôn trở thành thách thức lớn. Rác thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, ô nhiễm làng nghề và suy giảm tài nguyên đất, nước đang đòi hỏi cách tiếp cận tổng hợp hơn.

Thứ năm, chất lượng quản trị nông thôn cần được nâng cao. Quy hoạch phải dựa trên đặc điểm địa phương, tránh tình trạng áp dụng một mô hình cho nhiều vùng khác nhau. Đây cũng là một trong những cảnh báo đáng chú ý của bản thảo gốc.

4. Định hướng và giải pháp

4.1. Đổi mới tư duy quy hoạch

Quy hoạch nông thôn cần chuyển từ tư duy đồng nhất sang tư duy phân vùng và phát huy lợi thế địa phương. Đồng bằng, trung du, miền núi, ven biển, hải đảo phải có mô hình phát triển phù hợp.

Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 và có hiệu lực từ ngày 15/2/2026. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển sang giai đoạn phát triển mới. Điều này cho thấy yêu cầu hiện nay không còn dừng ở việc hoàn thành các tiêu chí cơ bản mà hướng tới xây dựng những cộng đồng nông thôn có khả năng phát triển bền vững.

4.2. Lấy thu nhập và chất lượng sống làm thước đo

Cần đánh giá hiệu quả xây dựng nông thôn mới bằng các chỉ số thực chất như thu nhập, việc làm, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế - giáo dục, chất lượng môi trường, mức độ hài lòng của người dân và khả năng tiếp cận thị trường. Đặc biệt, không nên coi việc đạt chuẩn là điểm kết thúc. Xây dựng nông thôn mới phải là quá trình liên tục nâng cao chất lượng sống.

4.3. Phát triển kinh tế nông thôn theo chuỗi giá trị

Cần tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước; trong đó doanh nghiệp giữ vai trò kết nối thị trường, hợp tác xã tổ chức sản xuất, nông dân là chủ thể trực tiếp và khoa học - công nghệ cung cấp giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng. Trọng tâm là phát triển sản phẩm có thương hiệu, chế biến sâu, OCOP, du lịch nông nghiệp - nông thôn và các ngành nghề nông thôn.

4.4. Xây dựng nông thôn xanh, tuần hoàn

Cần coi môi trường là một cấu phần của năng lực cạnh tranh nông thôn. Phát triển sản xuất phải đi cùng tiết kiệm nước, đất và năng lượng; giảm sử dụng hóa chất; tái sử dụng phụ phẩm; xử lý chất thải chăn nuôi; phát triển năng lượng tái tạo và bảo vệ hệ sinh thái. Đây cũng là hướng phù hợp với định hướng chuyển đổi nông nghiệp sang mô hình sinh thái, xanh và giảm phát thải.

4.5. Đẩy mạnh chuyển đổi số

Cần xây dựng cơ sở dữ liệu nông nghiệp và nông thôn, bản đồ số vùng sản xuất, mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và các nền tảng kết nối cung - cầu. Chuyển đổi số phải phục vụ trực tiếp người dân và doanh nghiệp, tránh tình trạng số hóa hình thức nhưng không tạo ra giá trị kinh tế.

4.6. Nâng cao vai trò chủ thể của cộng đồng

Mọi dự án đầu tư ở nông thôn cần được công khai, minh bạch và tham vấn cộng đồng. Người dân phải được tham gia từ khâu xác định nhu cầu, lựa chọn công trình đến giám sát và đánh giá kết quả. Đây là điểm cần kế thừa từ tư tưởng cốt lõi của bản thảo: xây dựng nông thôn mới trước hết phải xây dựng được sự đồng thuận trong nhân dân.

5. Kết luận

Sau hơn một thập niên, xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đã đạt bước tiến lớn cả về quy mô và chất lượng. Từ xuất phát điểm chỉ có 2,05% số xã đạt chuẩn vào năm 2013, đến năm 2025 tỷ lệ xã đạt chuẩn đã xấp xỉ 80%; đồng thời nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu phát triển nhanh.

Những kết quả này khẳng định tính đúng đắn của chủ trương xây dựng nông thôn mới, đồng thời cho thấy sức mạnh của sự tham gia của người dân, hệ thống chính trị và các nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, giai đoạn sau năm 2025 đặt ra một yêu cầu mới: không chỉ xây dựng nông thôn đạt chuẩn mà phải xây dựng nông thôn có khả năng phát triển bền vững. Trọng tâm vì vậy cần chuyển sang ba trụ cột: nông nghiệp sinh thái và có giá trị gia tăng cao; nông dân có tri thức, kỹ năng và năng lực kinh tế; nông thôn hiện đại, xanh, số và đáng sống.

Nếu giai đoạn trước đặt câu hỏi “làm thế nào để đạt chuẩn?”, thì giai đoạn 2026–2030 cần trả lời câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để những thành quả nông thôn mới thực sự chuyển hóa thành chất lượng sống, sinh kế bền vững và động lực phát triển lâu dài của cư dân nông thôn? Đây chính là bước chuyển từ xây dựng nông thôn mới về lượng sang phát triển nông thôn mới về chất, phù hợp với định hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh./.

Tài liệu tham khảo:

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

- Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.

- Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025.

- Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 18/2022/QĐ-TTg ngày 02/08/2022 về điều kiện, trình tự, thủ tục xét, công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2021–2025.

- Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030.

- Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2025). Báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu chính về xây dựng nông thôn mới năm 2025.

- Tài liệu nghiên cứu nền: Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.

Đăng ký đặt báo