
Xuất khẩu khởi sắc nhưng nguồn nguyên liệu phụ thuộc bên ngoài
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong 7 tháng đầu năm 2026, chi phí nhập khẩu nguyên liệu điều tăng 48%, trong khi lượng nhập chỉ tăng 25%. Mức tăng chênh lệch này đang tạo thêm áp lực lên giá thành và dòng tiền của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu.
Số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam cho thấy, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 412.000 tấn hạt điều trong 7 tháng, thu về 2,9 tỷ USD. Sản lượng giảm nhẹ so với cùng kỳ nhưng kim ngạch vẫn tăng 3%, cho thấy giá trị xuất khẩu được cải thiện. Riêng tháng 7, lượng điều xuất khẩu đạt 70.600 tấn, trị giá hơn 504 triệu USD.
Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí thị trường tiêu thụ lớn nhất của điều Việt Nam với gần 100.000 tấn, tương ứng khoảng 719 triệu USD. Mỹ đứng thứ hai, đạt gần 91.000 tấn với giá trị khoảng 618 triệu USD. Đáng chú ý, thị phần điều Việt Nam tại Mỹ tiếp tục gia tăng. Trong 5 tháng đầu năm 2026, gần 9/10 kg điều nhập khẩu vào thị trường này có nguồn gốc từ Việt Nam, đưa thị phần từ 85,8% lên 89,1%.
Tại Anh, sản phẩm điều của Việt Nam cũng chiếm ưu thế với 82,2% thị phần. Nhu cầu đối với điều không muối và các sản phẩm chế biến tối thiểu đang tăng nhờ xu hướng sử dụng thực phẩm thuần chay và đồ ăn nhẹ. Trong 5 tháng đầu năm, Anh nhập khẩu hơn 10.000 tấn điều, trị giá khoảng 75 triệu USD, tăng 18% về giá trị so với cùng kỳ.
Dù xuất khẩu đạt kết quả tích cực, ngành điều lại đối mặt với tình trạng nhập siêu nguyên liệu. Trong 7 tháng, Việt Nam chi khoảng 3,2 tỷ USD để nhập khẩu điều thô, cao hơn kim ngạch xuất khẩu. Điều này cho thấy quy mô chế biến lớn nhưng khả năng tự chủ nguồn nguyên liệu trong nước còn hạn chế.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), công suất chế biến điều của cả nước hiện vượt 6 triệu tấn mỗi năm, trong khi sản lượng điều nội địa chỉ dao động khoảng 300.000-400.000 tấn. Vì vậy, doanh nghiệp phải nhập khẩu trên 90% nguyên liệu từ Campuchia và các quốc gia châu Phi.
Ông Phạm Ngọc Thành, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hà Mỵ (Đồng Nai), nhận định việc phụ thuộc nguồn cung từ nước ngoài khiến doanh nghiệp dễ chịu ảnh hưởng khi địa chính trị và chính sách thương mại tại các quốc gia cung cấp thay đổi.
Thực tế tại Bờ Biển Ngà cho thấy nguồn cung điều thô dành cho Việt Nam đang chịu thêm sức ép khi hoạt động chế biến nội địa tăng mạnh. Một số nước Tây Phi cũng có xu hướng hạn chế xuất khẩu điều thô đầu vụ hoặc tăng thuế, phí nhằm giữ lại giá trị gia tăng trong nước.
Chế biến sâu được xem là hướng nâng giá trị ngành điều
Bên cạnh bài toán nguyên liệu, doanh nghiệp điều Việt Nam đang phải thích ứng với những yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt tại các thị trường lớn. EU và Mỹ tiếp tục tăng cường tiêu chuẩn liên quan đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm.
Theo ông Phạm Ngọc Thành, tại một số thị trường mới, doanh nghiệp còn gặp khó khăn do chưa nắm rõ quy định nhập khẩu. Việc chuẩn bị hồ sơ chứng minh tiêu chuẩn có thể mất nhiều thời gian, qua đó khiến doanh nghiệp bỏ lỡ những thời điểm bán hàng thuận lợi.
Một điểm nghẽn khác là giá trị thương hiệu. Việt Nam hiện cung ứng khoảng 80% lượng nhân điều xuất khẩu toàn cầu, nhưng nhiều sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng quốc tế lại được bán dưới thương hiệu nước ngoài. Điều này khiến giá trị thu về cho doanh nghiệp Việt chưa tương xứng với vị thế về sản lượng.
Ông Cao Thúc Uy, Giám đốc Công ty TNHH Cao Phát (TP.HCM), cho rằng cạnh tranh nguyên liệu vào đầu vụ vẫn là rủi ro đáng lưu ý. Dù sản lượng điều thô toàn cầu năm 2026 được dự báo ổn định quanh mức 5 triệu tấn, tình trạng tranh mua nguyên liệu vẫn diễn ra.
Trong khi đó, ông Phùng Văn Sâm, Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Hanfimex Việt Nam (Hà Nội), cho rằng sự thiếu hụt thông tin đáng tin cậy về cung cầu đang khiến thị trường nguyên liệu biến động và làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp.
Trước những thách thức này, chuyển từ xuất khẩu sản phẩm sơ chế sang chế biến sâu được xem là giải pháp quan trọng để nâng hiệu quả ngành hàng. Chênh lệch giá giữa các dòng điều cho thấy dư địa gia tăng giá trị còn lớn. Trong khi điều WW320 phổ biến có giá khoảng 7,2-7,5 USD/kg, dòng cao cấp WW180 có thể đạt gần 9,8 USD/kg.
PGS.TS Nguyễn Đình Thọ từ Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường đề xuất tận dụng phụ phẩm từ vỏ điều để sản xuất dầu vỏ điều (CNSL), qua đó gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị nguyên liệu. Theo hướng này, lợi nhuận có thể tăng thêm khoảng 231 USD trên mỗi đơn vị nguyên liệu.
Cùng với đó, các mô hình nông nghiệp sinh thái cũng đang mở ra hướng cải thiện thu nhập cho người trồng. Tại Bình Phước (cũ), việc trồng xen ca cao hoặc cà phê dưới tán điều được triển khai theo hướng đa dạng hóa sản xuất, giúp thu nhập có thể đạt 90-120 triệu đồng/ha.
Ngành điều đang hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 5 tỷ USD trong năm 2026 và xa hơn là 10,5 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu này, ông Phạm Ngọc Thành đề xuất tập trung vào 5 nhóm giải pháp gồm ổn định vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ chế biến sâu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu quốc gia và đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp.
Trong bối cảnh gói tín dụng 100 nghìn tỷ đồng hỗ trợ nông nghiệp cùng hệ thống logistics đang được hoàn thiện, ngành điều được kỳ vọng có thêm nguồn lực để thay đổi mô hình tăng trưởng. Thay vì phụ thuộc vào sản lượng và nguyên liệu nhập khẩu, việc nâng hàm lượng công nghệ, phát triển sản phẩm giá trị cao và xây dựng thương hiệu sẽ là chìa khóa giúp ngành hàng này cải thiện hiệu quả trong thời gian tới.