
Từ giao dịch mùa vụ đến xây dựng chuỗi giá trị dài hạn
Ngày 19/8, tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, chương trình “Gặp gỡ, giao thương, kết nối hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc, tỉnh Đắk Lắk năm 2026” diễn ra với sự tham gia trực tiếp của 63 doanh nghiệp, đơn vị Trung Quốc.
Chương trình do UBND tỉnh Đắk Lắk chủ trì, Báo Nông nghiệp và Môi trường bảo trợ truyền thông, phối hợp với Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Thương mại C&M cùng các đơn vị liên quan tổ chức.
Tại sự kiện, ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, cho rằng Trung Quốc là thị trường đặc biệt quan trọng đối với người trồng và doanh nghiệp sầu riêng Việt Nam. Tuy nhiên, việc ngành hàng tăng trưởng nhanh nhờ nhu cầu thị trường không thể là cơ sở duy nhất cho chiến lược phát triển dài hạn.
“Muốn đi nhanh có thể dựa vào cơ hội thị trường, nhưng muốn đi xa phải dựa vào chất lượng, uy tín và niềm tin của đối tác”, ông nói.

Theo ông Trung, Đắk Lắk đang hướng tới thay đổi cách thức hợp tác với doanh nghiệp Trung Quốc, từ những giao dịch mua bán ngắn hạn sang liên kết xây dựng chuỗi cung ứng ổn định, minh bạch và lâu dài. Địa phương mong muốn các đối tác chia sẻ sâu hơn về thị hiếu, nhu cầu tiêu dùng, tiêu chuẩn sản phẩm và yêu cầu của nhà nhập khẩu để cùng xác định những lĩnh vực có thể đầu tư trong 5-10 năm tới.
Đắk Lắk hiện có khoảng 45.000 ha sầu riêng, sản lượng năm 2026 dự kiến đạt khoảng 500.000 tấn. Vụ thu hoạch tập trung từ tháng 8 đến tháng 11 tạo lợi thế riêng về thời vụ, giúp địa phương có khả năng bổ sung nguồn cung cho thị trường quốc tế.
Bên cạnh vùng nguyên liệu, kinh nghiệm sản xuất của nông dân và hệ thống thu mua đang được mở rộng, Đắk Lắk còn có dư địa phát triển thành trung tâm về kho lạnh và logistics phục vụ Tây Nguyên, đồng thời kết nối với khu vực Đông Nam Bộ.
Trong giai đoạn mới, Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk xác định trọng tâm không phải tiếp tục chạy theo diện tích và sản lượng mà là nâng giá trị sản phẩm. Chất lượng, an toàn thực phẩm, tính đồng đều, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng đúng nhu cầu thị trường được đặt lên hàng đầu.
Ông Trần Văn Thắng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, cho biết ngành hàng đang chuyển từ tư duy sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu thực tế của thị trường. “Nếu trước đây, chúng ta sản xuất xong rồi mới đi tìm người mua thì nay phải chuyển sang sản xuất những gì thị trường cần”, ông Thắng nhấn mạnh.
Theo đó, doanh nghiệp và đối tác quốc tế cần tham gia sâu hơn vào quá trình tổ chức sản xuất, cung cấp thông tin về nhu cầu tiêu dùng, tiêu chuẩn chất lượng và xu hướng thị trường. Trên cơ sở đó, nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà khoa học có thể phối hợp xây dựng vùng nguyên liệu phù hợp.
Cùng với việc kiểm soát chất lượng tại vườn, các khâu chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh và logistics cũng được xác định là những mắt xích cần ưu tiên. Công nghệ có thể được ứng dụng vào phân loại, đánh giá chất lượng và tự động hóa nhà máy nhằm giảm phụ thuộc vào lao động thủ công, nâng độ chính xác và tính đồng nhất của sản phẩm.
“Doanh nghiệp Trung Quốc có thể tham gia đầu tư vào chế biến, kho lạnh, logistics, công nghệ và phân phối; trong khi Đắk Lắk phát huy lợi thế vùng nguyên liệu, nông dân và doanh nghiệp. Từ đó xây dựng chuỗi liên kết ổn định cho nông dân, nâng giá trị cho doanh nghiệp và cung cấp sản phẩm chất lượng hơn cho người tiêu dùng”, ông Thắng chia sẻ.
Doanh nghiệp Trung Quốc muốn tham gia sâu vào chuỗi sầu riêng
Ở phía đối tác Trung Quốc, bà Tăng Hiểu Ngọc, đại diện Tập đoàn Chứng nhận và Giám định Trung Quốc (CCIC), cho rằng việc nâng cấp ngành sầu riêng cần được thực hiện đồng bộ từ sản xuất đến phân phối. Theo bà Ngọc, Việt Nam cần chú trọng tối ưu giống, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và sử dụng công nghệ số để giám sát vùng trồng. Sau thu hoạch, chuỗi lạnh cần được đầu tư xuyên suốt, từ kho bảo quản tại vùng nguyên liệu đến quá trình vận chuyển, qua đó duy trì độ tươi và hạn chế tổn thất.
Truy xuất nguồn gốc cũng cần được số hóa để từng lô hàng có thể kiểm nghiệm và xác định rõ thông tin sản xuất. Đây là cơ sở giúp nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường và củng cố niềm tin người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, CCIC đề xuất phát triển đồng thời hệ thống phân phối và thương hiệu. “Nếu kênh phân phối quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm thì thương hiệu quyết định giá trị. Vì vậy, cần kết hợp hệ thống phân phối trực tiếp với các kênh trực tuyến, đồng thời đẩy mạnh marketing để nâng cao độ nhận diện sầu riêng Việt trên thị trường”, bà Ngọc cho biết.
Theo bà Tăng Hiểu Ngọc, các giải pháp về tài chính cũng có thể hỗ trợ chuỗi sầu riêng giảm áp lực vốn. Các hình thức tài trợ đơn hàng, tín dụng dựa trên chứng từ kho và sản phẩm quản trị rủi ro sẽ tạo thêm nguồn lực cho nông hộ, doanh nghiệp trong các khâu sản xuất, chế biến và lưu thông hàng hóa.
CCIC đồng thời đề xuất xây dựng nền tảng số kết nối vùng trồng, kho bãi và thị trường, chia sẻ dữ liệu về đất đai, khí hậu, sâu bệnh, nhu cầu tiêu dùng, giá cả, đơn hàng, logistics và tồn kho. Trước mắt, hai bên có thể xây dựng các mô hình trình diễn canh tác chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng trồng tại Việt Nam và hệ thống kho tại khu vực cửa khẩu phía Trung Quốc.
Về lâu dài, việc phát triển một đến hai thương hiệu có ảnh hưởng tại thị trường Trung Quốc được kỳ vọng giúp sầu riêng Việt Nam chuyển lợi thế về vùng nguyên liệu và sản lượng thành giá trị thương hiệu, qua đó nâng sức cạnh tranh.
Cũng tại chương trình, ông Lưu Húc, Giám đốc kinh doanh thị trường nước ngoài của China Coop, ví sầu riêng như “sợi dây vàng” kết nối vùng sản xuất Việt Nam với thị trường tiêu dùng Trung Quốc. Theo ông Húc, nhu cầu đối với sầu riêng chất lượng cao tại Trung Quốc đang tạo ra dư địa lớn cho hợp tác. Tuy nhiên, doanh nghiệp hai nước cần hướng tới một chuỗi cung ứng an toàn, ổn định và lâu dài thay vì chỉ dừng ở hoạt động thu mua.
“Chúng tôi không chỉ muốn mua sầu riêng từ Việt Nam. Chúng tôi muốn cùng các đối tác xây dựng một chuỗi cung ứng ổn định, đáng tin cậy và có khả năng phát triển lâu dài”, ông Lưu Húc chia sẻ.
China Coop mong muốn phối hợp chuẩn hóa kỹ thuật ngay tại vùng trồng, từ lựa chọn giống, chăm sóc, kiểm soát sâu bệnh đến thu hoạch và xử lý sau thu hoạch. Các chuyên gia có thể hỗ trợ trực tiếp tại vườn, giúp nông hộ nâng cao kỹ thuật và hình thành vùng nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn thị trường Trung Quốc.
Ở các khâu sau thu hoạch, hệ thống sơ lạnh, phân loại, kho bảo quản và chuỗi lạnh xuyên biên giới được đề xuất tăng cường nhằm giữ chất lượng sản phẩm. Việc kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, vi sinh vật cùng truy xuất nguồn gốc sẽ giúp nâng cao độ minh bạch của từng lô hàng.
China Coop hiện có mạng lưới gần 30.000 hợp tác xã cung tiêu cơ sở, hơn 3.000 chợ đầu mối và hàng trăm nghìn điểm bán lẻ tại Trung Quốc. Mạng lưới này được kỳ vọng tạo thêm dư địa để sầu riêng Việt Nam mở rộng độ phủ tại thị trường Trung Quốc.
“Chúng tôi mong muốn mỗi trái sầu riêng đều có chất lượng, mỗi người nông dân đều có thu nhập. Đó mới là ý nghĩa của việc xây dựng chuỗi ngành”, ông Lưu Húc nhấn mạnh.
Với sự tham gia của doanh nghiệp hai nước, Đắk Lắk kỳ vọng các kết nối tại chương trình sẽ mở rộng thành những dự án cụ thể trong chế biến, kho lạnh, logistics, công nghệ và phân phối. Qua đó, lợi thế vùng nguyên liệu của địa phương có thể kết hợp với thế mạnh về thị trường và hệ thống phân phối của Trung Quốc, tạo nền tảng nâng giá trị sầu riêng Việt Nam theo hướng bền vững.