
Từ hành trình Đổi mới đến dấu mốc phát triển mới
Nhìn lại chặng đường phát triển của Việt Nam, những kết quả đạt được trong năm 2026 là thành quả của quá trình tích lũy nội lực, đổi mới mô hình kinh tế và mở rộng hội nhập quốc tế. Từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn trong những năm đầu sau thống nhất, Việt Nam từng bước cải thiện năng lực sản xuất, nâng cao thu nhập và tham gia sâu hơn vào mạng lưới thương mại toàn cầu.
Theo The Borgen Project, tổ chức phi lợi nhuận của Mỹ, tăng trưởng kinh tế đã giúp hàng triệu người Việt Nam thoát nghèo trong nhiều thập niên. Tỷ lệ dân số sống trong hoàn cảnh khó khăn từ mức hơn 70% vào đầu những năm 1990 đã giảm xuống dưới 1% trong những năm gần đây. Đây được xem là một trong những thành tựu phát triển đáng chú ý trên thế giới.
Bước ngoặt quan trọng bắt đầu từ công cuộc Đổi mới năm 1986, khi Việt Nam chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước giải phóng sức sản xuất và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995, gia nhập ASEAN cùng năm và trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã tạo thêm động lực cho tiến trình hội nhập.
Đặc biệt, sự gia tăng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), cùng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất khu vực. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ khoảng 280 USD năm 1995 lên xấp xỉ 1.150 USD năm 2008, đưa Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp theo phân loại của World Bank.
Trong giai đoạn 2011 - 2020, chỉ tiêu này tiếp tục tăng từ khoảng 1.950 USD lên hơn 3.550 USD. Ngay cả khi đại dịch Covid-19 gây ra những gián đoạn nghiêm trọng đối với thương mại và sản xuất toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương, đồng thời nhanh chóng phục hồi sau đại dịch. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người đã tiến sát ngưỡng 4.700 - 4.900 USD.
Theo báo cáo của Thủ tướng Lê Minh Hưng trình bày tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều sức ép từ bên ngoài như cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng. Tuy nhiên, nhờ sự phối hợp trong điều hành và triển khai quyết liệt các nhiệm vụ phát triển, nền kinh tế vẫn ghi nhận nhiều kết quả tích cực, dự kiến hoàn thành và vượt 14/15 chỉ tiêu chủ yếu.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, riêng quý III đạt 9,95%. Trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, mức cao nhất kể từ năm 2015. Nông nghiệp duy trì ổn định, còn lĩnh vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh mẽ với 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm ước đạt 1.110 tỷ USD, tăng 30,4% so với năm trước.
Đáng chú ý, GDP bình quân đầu người năm 2026 vượt mốc 5.000 USD, trong khi thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người đạt khoảng 4.800 USD. Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn đột phá phát triển Trường ĐH Sài Gòn, Việt Nam đã đạt mục tiêu bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao sớm hơn 4 năm so với kế hoạch năm 2030.
Thế và lực mới tạo dư địa phát triển
Việc nâng cao mức thu nhập không chỉ phản ánh sự cải thiện về đời sống người dân mà còn mở ra những cơ hội mới trong thu hút đầu tư, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cấp vị trí của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
TSKH Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế và quản lý TP.HCM, nhận định việc bước lên nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao góp phần củng cố độ tin cậy của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều này có ý nghĩa đối với xếp hạng tín nhiệm quốc gia, qua đó tạo điều kiện giảm chi phí huy động vốn trên thị trường quốc tế cho cả Chính phủ và doanh nghiệp.
Theo ông Trần Quang Thắng, lợi thế của Việt Nam hiện nay không chỉ nằm ở quy mô thị trường hơn 100 triệu dân, mà còn ở khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế trong khu vực ASEAN. Đây là cơ sở để Việt Nam chuyển từ vị thế tiếp nhận dòng vốn phục vụ gia công, lắp ráp sang thu hút những dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng sạch và công nghiệp hiện đại.

Cùng với đó, vị thế mới giúp Việt Nam có thêm điều kiện tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng các quy tắc thương mại quốc tế, nhất là những lĩnh vực đang phát triển nhanh như thương mại số, quản trị dữ liệu xuyên biên giới và chuỗi cung ứng bền vững.
Những chuyển biến về vị thế quốc gia cũng được củng cố bằng kết quả điều hành kinh tế trong năm 2026. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%. Giải ngân đầu tư công đạt gần 643.000 tỷ đồng, tương đương 63% kế hoạch. Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, mức cao nhất kể từ năm 2021. Thị trường chứng khoán được nâng hạng, trong khi Moody's điều chỉnh triển vọng tín nhiệm của Việt Nam lên mức tích cực.
Song song với việc thúc đẩy đầu tư, Chính phủ tiếp tục phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mặt bằng lãi suất cho vay giảm khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm, góp phần giảm áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp. Thu ngân sách nhà nước ước đạt 3,06 triệu tỷ đồng, trong khi bội chi ngân sách được kiểm soát khoảng 4,1% GDP và nợ công duy trì ở mức 33 - 34% GDP.
TS Nguyễn Việt Hùng, nguyên Trưởng khoa Xây dựng Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM, cho rằng những thành quả hiện nay càng có ý nghĩa khi đặt trong bối cảnh lịch sử nhiều khó khăn mà đất nước đã trải qua. Sau nhiều năm chiến tranh, bị bao vây, cấm vận và đối mặt với khủng hoảng kinh tế - xã hội, Việt Nam đã từng bước xây dựng nền tảng phát triển bằng sự sáng tạo và bản lĩnh của dân tộc.
"Cột mốc này cho thấy không chỉ ý chí, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam, của Đảng Cộng sản VN mà còn là sự sáng tạo phi thường bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh của người Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về mặt kinh tế, trở thành nền kinh tế năng động bậc nhất khu vực châu Á và cả thế giới. Chúng ta đã hình thành nền kinh tế công nghiệp dịch vụ và nông nghiệp ngày càng hiện đại, cân đối và phát triển. Chúng ta bước đầu có những mô hình phát triển gắn với công nghiệp hiện đại và không còn xa lạ, đang tiến bước mạnh mẽ với tốc độ thần tốc trong quá trình chuyển đổi số của nhân loại", TS Nguyễn Việt Hùng nhận định.
Tăng tốc năm 2027, hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số
Những thành tựu của năm 2026 tạo tiền đề để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Theo kế hoạch được Thủ tướng Lê Minh Hưng trình Quốc hội, mục tiêu trọng tâm trong năm 2027 là phấn đấu đưa GDP tăng từ 10% trở lên, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Chính phủ xác định cần triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, trong đó ưu tiên hoàn thiện thể chế, tháo gỡ những rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Cùng với việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, các nguồn lực từ khu vực tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài cần được huy động hiệu quả hơn.
Một yêu cầu quan trọng khác là tạo động lực tăng trưởng mới thông qua phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành công nghệ chiến lược. Việc đầu tư cho hạ tầng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ quyết định khả năng nâng cấp năng suất, cải thiện năng lực cạnh tranh và giảm sự phụ thuộc vào các động lực tăng trưởng truyền thống.
PGS-TS Trần Hoàng Ngân cho rằng kết quả đạt được trong năm 2026 mang ý nghĩa lớn về mặt tinh thần, củng cố niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp đối với định hướng phát triển của đất nước. Sự phối hợp giữa Quốc hội trong hoàn thiện thể chế, Chính phủ trong tổ chức thực hiện và các địa phương trong triển khai chính sách đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp chuyển hóa những mục tiêu lớn thành kết quả cụ thể.
"Sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị chính là chìa khóa tạo nên sức mạnh tổng hợp. Quốc hội đã kề vai sát cánh, kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành pháp luật; Chính phủ thể hiện một quyết tâm hành động vô cùng lớn, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt cùng sự vào cuộc đồng bộ của các địa phương. Sự hiệp lực này đã biến những mục tiêu tưởng chừng rất thách thức trở thành những thành quả có thể cầm nắm được. Mốc lịch sử 2026 chính là bằng chứng sinh động nhất: Khi quyết tâm chính trị đủ lớn, chính sách ban hành kịp thời và toàn dân đồng lòng, Việt Nam hoàn toàn có đủ bản lĩnh để vượt qua sóng gió, tự tin tiến nhanh trên con đường trở thành cường quốc, sánh vai với các cường quốc năm châu", chuyên gia này nhấn mạnh.
Cùng quan điểm, TSKH Trần Quang Thắng cho rằng khát vọng phát triển, niềm tin vào tương lai, quyết tâm cải cách và sự đồng thuận xã hội là những yếu tố có khả năng tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ. Khi các nguồn lực này được kết nối và phát huy hiệu quả, mục tiêu tăng trưởng cao gắn với phát triển bền vững sẽ có thêm cơ sở để trở thành hiện thực.
Trong báo cáo trước Quốc hội, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh: "nhiệm vụ từ nay đến cuối năm 2026 và năm 2027 là rất nặng nề và có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, năng động, đổi mới, sáng tạo, không lùi bước trước khó khăn, thách thức, quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, hành động có trọng tâm, trọng điểm và quyết liệt hơn".
Từ dấu mốc phát triển năm 2026 đến mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2027, thách thức đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải chuyển hóa quy mô kinh tế thành năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh thực chất. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.