Từ thứ từng bị đốt bỏ đến "tài nguyên xanh" của đồng ruộng
Nhưng phía sau những đám khói ấy là một nghịch lý đã tồn tại nhiều năm trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam: người nông dân bỏ tiền mua phân bón hóa học để bổ sung dinh dưỡng cho đất, trong khi ngay trên đồng ruộng lại đang đốt bỏ một lượng lớn chất hữu cơ quý giá có thể quay trở lại nuôi dưỡng chính cây lúa.

Theo tính toán của tổ chức Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), mỗi tấn rơm chứa từ 5 - 8kg đạm, khoảng 20kg kali cùng nhiều nguyên tố vi lượng quan trọng khác đối với cây trồng. Điều đó đồng nghĩa với việc hàng trăm nghìn tấn rơm rạ bị đốt bỏ mỗi năm cũng là hàng trăm nghìn tấn tài nguyên hữu cơ bị thất thoát khỏi đồng ruộng.
Tại Bắc Ninh, với hơn 151 nghìn ha gieo cấy lúa mỗi năm, lượng rơm rạ phát sinh sau thu hoạch lên tới khoảng 600.000 - 700.000 tấn. Nếu được tận dụng hợp lý, đây sẽ là nguồn nguyên liệu khổng lồ cho sản xuất phân hữu cơ và phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Đó cũng là lý do Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh triển khai mô hình "Sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý rơm rạ trong sản xuất lúa theo hướng tuần hoàn" từ năm 2025, với mong muốn giải quyết đồng thời nhiều bài toán: giảm ô nhiễm môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, cải tạo đất và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Khác với nhiều mô hình chỉ dừng ở việc xử lý phụ phẩm sau thu hoạch, mô hình tại Bắc Ninh được xây dựng như một chu trình khép kín. Lúa được gieo cấy trong vụ xuân, rơm rạ sau thu hoạch được xử lý ngay tại ruộng bằng chế phẩm sinh học nhằm thúc đẩy quá trình phân hủy tự nhiên.
Sau vụ mùa, phần rơm còn lại tiếp tục được thu gom, phối trộn với phân chuồng, phân khoáng và chế phẩm vi sinh để sản xuất phân hữu cơ. Nguồn phân hữu cơ đó lại quay trở về đồng ruộng phục vụ cho vụ sản xuất tiếp theo.
Một vòng tuần hoàn gần như khép kín được hình thành ngay tại địa phương, không phát sinh chất thải và giảm đáng kể nhu cầu sử dụng vật tư đầu vào từ bên ngoài. Mô hình được triển khai tại Tổ dân phố Đạo Xá, phường Trạm Lộ và Tổ dân phố Đồng Đoài, phường Thuận Thành với quy mô 80 ha trong năm 2025, trước khi tiếp tục được duy trì, đánh giá và hoàn thiện trong năm 2026.
Sau khi áp dụng chế phẩm Bio QL01, chỉ sau khoảng 18 - 21 ngày, lượng rơm rạ trên đồng ruộng đã phân hủy từ 80 - 90%, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm đất và gieo cấy vụ tiếp theo. Quan trọng hơn, hiện tượng vàng lá, nghẹt rễ vốn thường xuất hiện khi vùi rơm tươi trong điều kiện ngập nước giảm rõ rệt.
Thay đổi lớn nhất không nằm ở công nghệ, mà ở những con số biết nói
Đồng chí Nguyễn Ngọc Ninh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh cho rằng giá trị lớn nhất mà mô hình mang lại không phải là vài tạ lúa tăng thêm trên mỗi héc-ta, mà đó là sự thay đổi trong cách nhìn nhận về phụ phẩm nông nghiệp.

Ông Ninh chia sẻ: "Trong nhiều năm, rơm rạ gần như được xem là thứ bỏ đi sau thu hoạch. Nhưng nếu nhìn dưới góc độ kinh tế tuần hoàn, đây thực chất là một nguồn tài nguyên rất lớn của ngành trồng lúa. Khi rơm rạ được tái sử dụng hiệu quả, chúng ta vừa giảm được chi phí đầu vào, vừa giảm phát thải và đồng thời cải thiện sức khỏe của đất."
Theo ông Ninh, đây cũng là hướng đi phù hợp với định hướng phát triển nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp mà Bắc Ninh đang triển khai trong giai đoạn hiện nay.
Trong bối cảnh ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước yêu cầu giảm phát thải để đáp ứng các cam kết quốc tế về khí hậu cũng như các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, việc thay đổi phương thức xử lý rơm rạ không còn đơn thuần là câu chuyện môi trường mà đã trở thành yêu cầu tất yếu của sản xuất nông nghiệp hiện đại.
Kết quả theo dõi trong ba vụ sản xuất liên tiếp cho thấy mô hình không làm giảm năng suất như lo ngại ban đầu của nhiều hộ dân. Ngược lại, năng suất lúa trong mô hình luôn cao hơn diện tích sản xuất truyền thống. Cụ thể, vụ Xuân năm 2025 đạt bình quân 76 tạ/ha, cao hơn đối chứng 1,75 tạ/ha; vụ Mùa năm 2025, dù chịu tác động của thời tiết bất lợi, năng suất vẫn đạt 69,4 tạ/ha, cao hơn ruộng đối chứng 2,6 tạ/ha. Đến vụ Xuân năm 2026, năng suất tiếp tục duy trì ở mức gần 76 tạ/ha.
Điều này cho thấy việc giảm sử dụng phân bón hóa học không đồng nghĩa với việc giảm năng suất nếu đất được bổ sung đầy đủ nguồn hữu cơ và hệ vi sinh vật có lợi được phục hồi. Song điều khiến người nông dân quan tâm hơn cả vẫn là hiệu quả kinh tế. Vì ở vụ đầu tiên, lợi nhuận của mô hình thấp hơn sản xuất truyền thống do phát sinh chi phí đầu tư ban đầu cho xử lý rơm rạ.
Tuy nhiên, ngay từ vụ Mùa năm 2025, hiệu quả đã bắt đầu xuất hiện khi lượng phân bón hóa học sử dụng giảm khoảng 20%. Đến vụ Xuân năm 2026, toàn bộ lượng phân hữu cơ phục vụ sản xuất được lấy từ nguồn rơm rạ đã ủ của vụ trước, giúp người dân tiết kiệm khoảng 8 triệu đồng mỗi héc-ta tiền mua phân hữu cơ thương mại.
Sau ba vụ liên tiếp, lợi nhuận cộng dồn của mô hình cao hơn phương thức canh tác truyền thống hơn 6,2 triệu đồng/ha. Dù con số không quá lớn nếu nhìn trong một vụ sản xuất. Nhưng nếu nhân lên với hàng chục nghìn héc-ta lúa của Bắc Ninh, đó sẽ là nguồn giá trị gia tăng đáng kể cho khu vực nông nghiệp của tỉnh.
Muốn hồi sinh sức khỏe đất, phải bắt đầu từ người nông dân
Trong nhiều năm qua, sản xuất lúa tại vùng đồng bằng Bắc Bộ phụ thuộc ngày càng nhiều vào phân bón hóa học. Điều này giúp duy trì năng suất trong ngắn hạn nhưng cũng kéo theo hệ quả là đất canh tác ngày càng nghèo hữu cơ, khả năng giữ nước giảm và hệ vi sinh vật có lợi suy giảm.

Đồng chí Nguyễn Văn Hiền, cán bộ kỹ thuật phòng Trồng trọt - Khuyến lâm Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh cho biết quá trình theo dõi mô hình cho thấy những thay đổi tích cực xuất hiện khá rõ sau ba vụ sản xuất liên tiếp.
"Đất trong mô hình tơi xốp hơn, bộ rễ phát triển khỏe hơn và khả năng chống chịu sâu bệnh cũng tốt hơn. Khi hệ vi sinh vật có lợi được phục hồi, cây lúa khỏe lên một cách tự nhiên và nhu cầu sử dụng phân bón hóa học cũng giảm dần."
Theo ông Hiền, đây chính là nền tảng quan trọng để tiến tới sản xuất lúa giảm phát thải và nông nghiệp tái sinh trong tương lai.
Nếu kỹ thuật là điều kiện cần thì sự thay đổi nhận thức của nông dân mới là điều kiện đủ để mô hình được nhân rộng. Ông Nguyễn Xuân Khuyến, một hộ dân trực tiếp tham gia mô hình tại Tổ dân phố Đạo Xá nhớ lại, thời gian đầu không ít người còn hoài nghi về hiệu quả của việc xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học.
"Bà con quen đốt rơm cho nhanh nên ban đầu cũng ngại làm theo cách mới. Nhưng sau khi thấy đất dễ làm hơn, cây lúa khỏe hơn và giảm được tiền phân bón thì mọi người bắt đầu tin và chủ động làm theo."
Theo ông Khuyến, điều đáng mừng nhất là nhiều hộ dân hiện nay đã không còn coi rơm rạ là thứ phải tìm cách loại bỏ khỏi đồng ruộng. Ngược lại, họ bắt đầu coi đó là một phần tài sản của vụ mùa.
Từ mô hình khuyến nông đến chiến lược phát triển xanh
Trong nhiều năm, khuyến nông thường được hiểu là đưa giống mới, kỹ thuật mới hay cơ giới hóa vào sản xuất. Nhưng mô hình tại Bắc Ninh cho thấy vai trò của khuyến nông trong giai đoạn hiện nay đã rộng hơn rất nhiều. Đó là làm thay đổi tư duy trong sản xuất.

Là chuyển từ mục tiêu tăng năng suất đơn thuần sang mục tiêu tối ưu hóa giá trị trên cùng một đơn vị tài nguyên. Là chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Và xa hơn là chuyển từ tư duy khai thác sang tư duy tái tạo.
Việt Nam đang thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, những mô hình như vậy có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một dự án khuyến nông địa phương. Đó là những viên gạch đầu tiên cho quá trình chuyển đổi của ngành lúa gạo Việt Nam.
Việc phát triển một nền nông nghiệp xanh không nhất thiết phải bắt đầu từ những công nghệ đắt tiền. Mà có khi ngay cả một cọng rơm sau mùa gặt cũng có thể trở thành điểm khởi đầu cho một nền nông nghiệp bền vững hơn.