Từ những vườn sâm của người dân đến hệ sinh thái sản xuất
Điểm đáng chú ý trong câu chuyện Sâm nam núi Dành hiện nay không nằm đơn thuần ở việc Bắc Ninh có thêm bao nhiêu hecta sâm, mà ở quá trình hình thành những chủ thể cùng tham gia biến một nguồn gen bản địa thành sản phẩm hàng hóa. Nếu nhìn từ một vườn sâm, câu chuyện có vẻ đơn giản: người dân trồng, chăm sóc rồi thu hoạch củ hoặc hoa. Nhưng ở góc độ kinh tế, phía sau một sản phẩm sâm được đóng gói đưa ra thị trường là cả một chuỗi gồm giống, vùng nguyên liệu, kỹ thuật canh tác, thu hái, sơ chế, chế biến, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu, phân phối và tiêu thụ. Bắc Ninh đang bắt đầu hình thành từng mắt xích của chuỗi này.

Tại xã Phúc Hòa, nơi đang hình thành vùng sản xuất Sâm nam núi Dành quy mô lớn, sản xuất chủ yếu do người dân thực hiện rồi liên kết thông qua tổ hợp tác và hợp tác xã. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh, toàn xã hiện có hơn 120 ha Sâm nam núi Dành, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích trồng Sâm nam của tỉnh. Hợp tác xã (HTX) Sâm núi Dành Đức Hạnh là một trong những đơn vị nòng cốt trong tổ chức sản xuất, thu mua, sơ chế và bước đầu chế biến sản phẩm.
Mô hình của HTX Đức Hạnh được triển khai từ năm 2022, hiện có khoảng 5 ha, trong đó khoảng 4 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, sử dụng chế phẩm sinh học và không dùng thuốc bảo vệ thực vật. HTX còn liên kết với 30 hộ dân trong thôn, tổng diện tích liên kết 15 ha. Từ nguồn nguyên liệu này, HTX phát triển nhiều sản phẩm như hoa sâm tươi, hoa sâm sấy khô, củ sâm tươi, củ sâm sấy khô, rượu sâm, trà sâm, rễ lá sấy khô và sâm mật ong. Những con số này cho thấy vai trò của HTX đang thay đổi rõ rệt: không còn đơn thuần là nơi tập hợp các hộ cùng trồng một loại cây, HTX đang trở thành mắt xích trung gian kết nối nông hộ với thị trường.
Ở phía khác của vùng sản xuất, HTX Sâm nam núi Dành Việt Lập cũng là một chủ thể đáng chú ý. HTX từng tổ chức liên kết sản xuất với hàng chục hộ dân, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung và phát triển hệ thống bán, giới thiệu sản phẩm. Việc mở Trung tâm bán và giới thiệu các sản phẩm từ sâm tại Việt Lập từ đầu năm 2025 cho thấy thị trường đang được tổ chức theo hướng trực tiếp hơn, thay vì chỉ phụ thuộc vào các kênh bán hàng nhỏ lẻ. Trong khi đó, HTX Sản xuất và Tiêu thụ Sâm nam núi Dành Liên Chung có sản phẩm Nụ hoa Sâm nam núi Dành được công nhận OCOP 4 sao. Như vậy, trong cùng một ngành hàng đã bắt đầu xuất hiện sự phân công: có HTX tập trung vào vùng nguyên liệu và sản xuất theo hướng hữu cơ, có HTX phát triển sản phẩm chế biến, có đơn vị chú trọng tiêu thụ và xây dựng điểm giới thiệu sản phẩm. Đó là dấu hiệu cho thấy một hệ sinh thái chủ thể đang hình thành, thay vì chỉ có những hộ dân sản xuất cây đặc sản một cách riêng lẻ.
Khi doanh nghiệp bước vào, giá trị không còn nằm ở củ sâm
Nếu nông dân và HTX là nền móng của vùng nguyên liệu thì doanh nghiệp là lực kéo để cây sâm đi sâu hơn vào thị trường. Một trong những doanh nghiệp đáng chú ý là Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Sâm Việt Nam. Năm 2025, sản phẩm Hoa Sâm nam núi Dành của doanh nghiệp được công nhận OCOP 4 sao; sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe Star SaViNa cũng được nâng hạng. Việc các sản phẩm này được đưa vào hệ thống OCOP cho thấy quá trình chuẩn hóa, hoàn thiện bao bì, chất lượng và thương mại hóa đang được đẩy lên một bước.

Điều đáng nói là hướng đi của doanh nghiệp không chỉ dừng ở việc bán củ sâm. Các dòng sản phẩm được phát triển gồm trà sâm túi lọc, tinh chất sâm, trà sâm hòa tan, dầu gội thảo mộc sâm... Đây chính là phần giá trị gia tăng mà một vùng nguyên liệu muốn phát triển bền vững phải hướng tới. Một cây sâm nếu chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu thì giá trị phần lớn vẫn nằm ở sản phẩm đầu vào; khi được sơ chế, chế biến, thiết kế thành nhiều dòng sản phẩm và đưa vào hệ thống thương hiệu, cùng một nguồn nguyên liệu có thể tạo ra nhiều giá trị kinh tế hơn.
Sự xuất hiện của nhiều chủ thể vì thế có ý nghĩa lớn hơn việc làm tăng số lượng sản phẩm. Nó tạo ra sự phân công trong chuỗi giá trị: người dân tập trung sản xuất nguyên liệu; HTX tổ chức vùng trồng, kiểm soát quy trình, thu mua và sơ chế; doanh nghiệp đảm nhận những khâu đòi hỏi vốn, công nghệ, thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu và phân phối; còn cơ quan quản lý hỗ trợ về tiêu chuẩn, khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại và bảo hộ thương hiệu. Khi những mắt xích này được kết nối tốt, giá trị kinh tế của cây sâm sẽ không chỉ được tính bằng giá một kilôgam củ sâm tươi mà bằng khả năng chuyển hóa nguyên liệu thành nhiều sản phẩm, tiếp cận nhiều phân khúc khách hàng và tạo ra thương hiệu.
Đây cũng là lý do việc Bắc Ninh tiếp tục hỗ trợ các sản phẩm Sâm nam núi Dành trong chương trình OCOP cần được nhìn rộng hơn một khoản hỗ trợ cho từng sản phẩm cụ thể. Năm 2025, tỉnh công nhận Hoa Sâm nam núi Dành của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Sâm Việt Nam và Nụ hoa Sâm nam núi Dành của HTX Liên Chung đạt OCOP 4 sao; năm 2026, các sản phẩm này tiếp tục được hưởng chính sách hỗ trợ phát triển. Tuy nhiên, OCOP chỉ nên được xem là một công cụ nâng cấp sản phẩm, còn đích đến cuối cùng vẫn phải là thị trường.
Tháng 5/2026, tỉnh Bắc Ninh giao Viện Khoa học Nông nghiệp Tây Bắc chủ trì nhiệm vụ nghiên cứu phát triển Sâm nam núi Dành hữu cơ ứng dụng công nghệ số tại xã Phúc Hòa, phối hợp với HTX Sâm núi Dành Đức Hạnh. Nhiệm vụ thực hiện trong 24 tháng, kinh phí 3 tỷ đồng, tập trung vào xây dựng quy trình sản xuất hữu cơ, nghiên cứu chế biến sâu dược liệu, xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, truy xuất nguồn gốc.
Nếu được triển khai hiệu quả, đây có thể là bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển. Hữu cơ giúp nâng chất lượng vùng nguyên liệu và tạo khác biệt trên thị trường; công nghệ số giúp trả lời sản phẩm được trồng ở đâu, theo quy trình nào, sử dụng vật tư gì và ai chịu trách nhiệm ở từng khâu; còn chế biến sâu giúp giảm phụ thuộc vào việc bán nguyên liệu tươi, kéo dài vòng đời sản phẩm và mở rộng thị trường. Chính Sở Khoa học và Công nghệ cũng chỉ ra những điểm còn hạn chế hiện nay là kiểm soát chất lượng, chuẩn hóa quy trình canh tác, sơ chế - chế biến và truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ; chế biến sâu còn hạn chế và tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường nội địa, các kênh truyền thống.
Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc sẽ ngày càng quan trọng khi Sâm nam núi Dành hướng tới những thị trường có yêu cầu cao hơn. Một sản phẩm dược liệu muốn đi xa không thể chỉ dựa vào câu chuyện “sâm quý” hay truyền thống sử dụng lâu đời mà sẽ phải trả lời được những câu hỏi về giống, vùng trồng, quy trình chăm sóc, hàm lượng hoạt chất, quy trình chế biến và tiêu chuẩn chất lượng. Thương hiệu Sâm nam núi Dành trong tương lai vì thế phải được xây dựng bằng dữ liệu và chất lượng, bên cạnh câu chuyện truyền thống.
Từ “sâm quý” đến một ngành hàng tạo giá trị
Sâm nam núi Dành có một nền tảng thương hiệu mà không phải cây trồng nào cũng có. Ngày 2/8/2021, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 3228/QĐ-SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00108 cho sản phẩm Sâm nam mang chỉ dẫn địa lý “Núi Dành”; khu vực địa lý được bảo hộ khi đó gồm xã Liên Chung và xã Việt Lập thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cũ. Đây là một tài sản sở hữu trí tuệ quan trọng để xây dựng thương hiệu, nhưng bản thân chỉ dẫn địa lý cũng chỉ phát huy hết giá trị khi đi cùng chất lượng sản phẩm, quy trình kiểm soát và thị trường.
Điểm đáng mừng là câu chuyện phát triển Sâm nam núi Dành hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi một vài hộ trồng sâm. Đã có nông dân, các HTX tổ chức vùng nguyên liệu, doanh nghiệp đầu tư chế biến, sản phẩm OCOP 4 sao, nghiên cứu khoa học về hữu cơ và công nghệ số, cùng các hoạt động xúc tiến thương mại. Một số mô hình còn mở rộng liên kết sản xuất ra ngoài địa bàn, cho thấy cây sâm đang bắt đầu tạo ra một không gian kinh tế rộng hơn vùng núi Dành.

Nhưng khi quy mô mở rộng, yêu cầu đặt ra cũng khác trước. Bài toán của Bắc Ninh không phải là làm cho mọi hộ dân đều trồng sâm, mà là xây dựng một chuỗi trong đó người trồng có đầu ra ổn định, HTX có đủ năng lực tổ chức sản xuất, doanh nghiệp có động lực đầu tư chế biến và người tiêu dùng có lý do để lựa chọn sản phẩm. Muốn vậy, các vùng nguyên liệu cần tiếp tục được hình thành theo tiêu chuẩn, gắn với mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc, đồng thời phân định rõ vai trò của từng chủ thể. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp nhưng phải tạo được hạ tầng thể chế, tiêu chuẩn và dữ liệu; HTX không cạnh tranh trực tiếp với nông dân mà phải tổ chức lại sản xuất, nâng sức mặc cả của người trồng; doanh nghiệp không chỉ mua nguyên liệu mà cần tham gia ngay từ khâu xây dựng vùng trồng, tiêu chuẩn hóa và phát triển sản phẩm.
Quan trọng hơn, người nông dân phải được hưởng một phần tương xứng trong giá trị gia tăng mà cả chuỗi tạo ra. Đó mới là thước đo cuối cùng của một ngành kinh tế dược liệu.
Sâm nam núi Dành có nguồn gen bản địa, câu chuyện văn hóa, vùng đất đặc trưng, chỉ dẫn địa lý và hệ thống chủ thể ngày càng đa dạng. Nhưng lợi thế chỉ thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi được tổ chức thành chuỗi. Từ vùng nguyên liệu đến HTX, từ tiêu chuẩn hữu cơ đến công nghệ số, từ chế biến sâu đến thương hiệu và thị trường, Bắc Ninh đang có những viên gạch đầu tiên cho một chuỗi giá trị như vậy. Chặng đường phía trước không còn đơn giản là mở rộng diện tích hay tăng sản lượng, mà là làm cho những mắt xích ấy liên kết chặt hơn, để giá trị được tạo ra từ đất, giống, tri thức và công nghệ quay trở lại nhiều hơn với người sản xuất. Nếu làm được điều đó, Sâm nam núi Dành sẽ không chỉ dừng ở câu chuyện bảo tồn một nguồn gen bản địa hay giữ lại một sản vật đặc trưng, mà có thể trở thành một ví dụ sinh động về cách tài nguyên bản địa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế xanh, giá trị tri thức và sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn Bắc Ninh.