
Áp thuế cao nhất đối với đất bỏ hoang, không áp dụng hạn mức
Sáng 23/10, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Dự thảo luật hướng đến cụ thể hóa nhiều chủ trương của Đảng về chính sách thuế, trong đó có các định hướng tại Nghị quyết số 21-NQ/TW về chính sách tài chính, thuế đối với đất đai; Nghị quyết số 71-NQ/TW về phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW liên quan đến nâng cao sức khỏe học đường và sức khỏe cộng đồng.

Đáng chú ý, đối với Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Chính phủ đề xuất áp dụng mức thuế suất 0,2% với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Quy định này không áp dụng hạn mức, đồng nghĩa toàn bộ diện tích đất thuộc diện chịu thuế sẽ được tính theo cùng một mức thuế suất, thay vì phân chia theo ngưỡng diện tích như một số trường hợp sử dụng đất khác.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, mức thuế suất được đề xuất là mức cao nhất trong Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành, tương đương mức áp dụng đối với đất lấn chiếm và cao gấp bảy lần thuế suất đối với đất ở trong hạn mức.
Chính sách được xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực đất đai, hạn chế tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả và khuyến khích người sử dụng đất sớm triển khai các hoạt động theo mục đích được giao. Đây cũng là một trong những hướng tiếp cận nhằm tăng cường công cụ tài chính để điều tiết hành vi sử dụng đất, thay vì chỉ dựa vào các biện pháp quản lý hành chính.
Cùng với đề xuất điều chỉnh chính sách thuế, dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lần đầu đề cập khái niệm đất bỏ hoang, được hiểu là đất đã được Nhà nước giao hoặc cho thuê nhưng không được đưa vào sử dụng liên tục trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo các quy định được đề xuất, đất nông nghiệp bỏ hoang quá 24 tháng liên tục có thể bị thu hồi nếu người sử dụng không tiếp tục đưa đất vào sử dụng sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối với các dự án chậm tiến độ, ngoài tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất theo quy định, chủ đầu tư còn có thể phải nộp khoản tiền bổ sung tăng dần theo từng năm. Trường hợp quá 60 tháng vẫn không đưa đất vào khai thác, đất có thể bị thu hồi.
Cơ quan thẩm tra yêu cầu làm rõ phạm vi và nghĩa vụ tài chính
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết cơ quan này cơ bản tán thành việc nghiên cứu chính sách thuế đối với đất bỏ hoang nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW. Tuy nhiên, hồ sơ dự thảo vẫn còn những vấn đề cần được đánh giá và hoàn thiện trước khi có thể áp dụng trên thực tế.

Một trong những điểm được lưu ý là dự thảo chưa đánh giá đầy đủ tác động của chính sách đối với nguồn thu ngân sách nhà nước. Đồng thời, quy định chưa loại trừ thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trường hợp dự án đầu tư được phê duyệt triển khai theo từng giai đoạn. Ủy ban Kinh tế và Tài chính cảnh báo: "Việc này có thể dẫn đến thu thuế đối với trường hợp chậm sử dụng đất do nguyên nhân khách quan".
Theo cơ quan thẩm tra, việc áp dụng thuế cần phân biệt rõ hành vi cố tình để đất không được sử dụng với những trường hợp chậm triển khai do nguyên nhân khách quan, nhằm tránh tạo thêm gánh nặng tài chính không phù hợp cho người sử dụng đất và nhà đầu tư. Bên cạnh đó, dự thảo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sử dụng các thuật ngữ đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng và chậm đưa vào sử dụng, nhưng dự thảo Luật Đất đai sửa đổi mới quy định khái niệm đất bỏ hoang cùng các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai. Sự khác biệt này có thể gây khó khăn trong việc xác định đối tượng chịu thuế và tổ chức thực hiện.

Một vấn đề khác là sự chồng lấn giữa mức thuế suất mới 0,2% với quy định hiện hành về thuế đối với đất sử dụng không đúng quy định. Theo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành, loại đất này đang chịu thuế suất 0,15%. Trong khi đó, các quy định về đất đai cũng dự kiến bổ sung khoản tiền phải nộp tăng thêm đối với dự án chậm đưa đất vào sử dụng.
Từ những bất cập trên, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi đề nghị Chính phủ thống nhất thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí và phạm vi áp dụng giữa các dự thảo luật; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa thuế suất 0,2% với những khoản tiền phải nộp theo pháp luật về đất đai, tránh tình trạng một hành vi dẫn đến nghĩa vụ tài chính trùng lặp.
Cơ quan thẩm tra cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải quy định rõ trách nhiệm xác định, công bố và chia sẻ thông tin về các trường hợp thuộc diện chịu thuế giữa cơ quan quản lý đất đai và cơ quan thuế. Đây là điều kiện để chính sách có thể triển khai thống nhất, minh bạch và hạn chế phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện.
Ngoài nội dung liên quan đến đất bỏ hoang, dự thảo luật còn đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận theo quy định của Chính phủ. Chính phủ cũng đề xuất miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt động cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; đồng thời bổ sung chính sách miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất phục vụ giáo dục, đào tạo và đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bào dân tộc và miền núi.
Dù tán thành về sự cần thiết hỗ trợ giáo dục, một số ý kiến tại cơ quan thẩm tra đề nghị đánh giá kỹ tác động ngân sách, xác định rõ đối tượng thụ hưởng và thiết lập cơ chế giám sát để tránh lợi dụng chính sách. Đối với đề xuất miễn thuế cho hoạt động cung cấp suất ăn, đa số ý kiến chưa nhất trí do chưa có cơ chế bảo đảm lợi ích từ việc miễn thuế được chuyển trực tiếp thành mức giá thấp hơn cho học sinh và người bệnh.
Theo chương trình dự kiến, Quốc hội sẽ thảo luận về dự án luật tại tổ trong ngày 23/10 và tại hội trường ngày 6/11. Nếu được thông qua ngày 20/11, luật dự kiến có hiệu lực từ năm 2027.