Dòng vốn xanh mở rộng cơ hội từ chuyển đổi công nghệ làm mát

Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, tài chính xanh đang mở rộng phạm vi sang nhiều lĩnh vực có khả năng tạo ra đồng thời giá trị kinh tế và môi trường. Làm mát bền vững là một trong những lĩnh vực có tiềm năng kết nối đầu tư công nghệ, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải với các nguồn tín dụng xanh, trái phiếu xanh và vốn quốc tế.
dong-von-xanh-1789703458.webp
Làm mát bền vững mở đường cho doanh nghiệp tiếp cận vốn xanh.

Làm mát bền vững trở thành một phần của chuyển đổi xanh

Biến đổi khí hậu đang tạo sức ép ngày càng lớn đối với mô hình tăng trưởng, kéo theo nhu cầu tái phân bổ nguồn lực và thúc đẩy đầu tư vào các hoạt động thân thiện với môi trường. Theo GS. TS. Nguyễn Trọng Cơ, nguyên Giám đốc Học viện Tài chính, tài chính xanh không đơn thuần là một xu hướng tài chính mới, mà còn là “cơ chế giúp chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua việc tái phân bổ nguồn lực”.

Tại Việt Nam, nền tảng chính sách cho tài chính xanh đang từng bước được hoàn thiện, trong đó các tiêu chí phân loại dự án xanh tạo cơ sở để nhận diện những hoạt động có khả năng tiếp cận dòng vốn này. Tuy nhiên, quy mô thị trường vẫn còn khoảng cách so với nhu cầu đầu tư, trong khi yêu cầu về minh bạch, tiêu chuẩn và kiểm chứng hiệu quả môi trường ngày càng cao.

nguyen-trong-co-1789703822.jpg
GS. TS. Nguyễn Trọng Cơ cho rằng tài chính xanh là cơ chế thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua tái phân bổ nguồn lực.

Trong bối cảnh đó, làm mát bền vững cho thấy một hướng tiếp cận có thể gắn mục tiêu giảm phát thải với lợi ích trực tiếp của doanh nghiệp. Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal từ năm 1994, qua đó từng bước xây dựng hệ thống chính sách kiểm soát các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và thúc đẩy chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh, điều hòa không khí.

Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Việt Nam đã loại trừ hoàn toàn CFC, Halon và CTC, đồng thời loại trừ HCFC-141b nguyên chất trong sản xuất xốp. Với HCFC, trong giai đoạn 2025-2029, mức tiêu thụ không vượt 32,5% mức cơ sở, tương ứng hạn ngạch nhập khẩu 1.300 tấn/năm. Từ năm 2024, Việt Nam bắt đầu quản lý HFC theo hạn ngạch nhập khẩu để thực hiện lộ trình giảm dần theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019.

Theo thống kê của Ban Thư ký Ô-dôn, quá trình thực hiện Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa khoảng 260 triệu tấn CO2 tương đương. “Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi phức tạp hơn. Chúng ta vừa phải tiếp tục loại trừ HCFC, vừa bắt đầu thực hiện lộ trình giảm dần HFC theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, trong khi nhu cầu làm mát phục vụ đời sống và phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục gia tăng”, Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang nhấn mạnh.

han-ngach-nhap-khau-cac-chat-hfc-hcfc-1789703678.png
Yêu cầu chuyển đổi trong quản lý HCFC, HFC khi nhu cầu làm mát ngày càng gia tăng.

Theo ông Quang, làm mát bền vững cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, từ giảm nhu cầu làm mát, nâng cao hiệu suất thiết bị đến sử dụng môi chất lạnh có GWP thấp và quản lý môi chất trong toàn bộ vòng đời. Sau khi Việt Nam tham gia Cam kết Làm mát Toàn cầu năm 2023, Quyết định số 496/QĐ-TTg đã xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp liên quan đến làm mát bền vững. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP tiếp tục thể chế hóa khái niệm này và bổ sung chính sách khuyến khích. Trong khi đó, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh tạo thêm cơ sở để kết nối các dự án đáp ứng tiêu chí với nguồn tài chính xanh.

Từ hiệu quả môi trường đến cơ hội huy động vốn

Với doanh nghiệp, đầu tư vào hệ thống làm mát hiệu quả hơn có thể mang lại lợi ích kép khi vừa giảm tiêu thụ năng lượng, chi phí vận hành, vừa hỗ trợ đáp ứng các yêu cầu về giảm phát thải. “Khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt hơn để đầu tư và đổi mới công nghệ, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và nguồn vốn ưu đãi quốc tế. Vì vậy, điều quan trọng là từng bước biến làm mát bền vững từ một yêu cầu về môi trường thành một lựa chọn đầu tư có hiệu quả kinh tế và có khả năng nhân rộng trên thị trường”, ông Quang khẳng định.

Trong lĩnh vực làm mát, giảm phát thải có thể đến từ tiết kiệm năng lượng thông qua hệ thống điều hòa hiệu suất cao, tối ưu kho lạnh, trung tâm dữ liệu hoặc các công nghệ làm mát hiệu quả hơn. Một hướng khác là giảm phát thải trực tiếp từ môi chất lạnh thông qua chuyển đổi khỏi các môi chất có GWP cao, tăng cường thu gom, tái sử dụng và tái chế.

lam-mat-ben-vung-1789703997.gif
Hệ thống điều hòa hiệu suất cao góp phần tiết kiệm năng lượng, qua đó giảm phát thải trong lĩnh vực làm mát.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Tuấn Quang lưu ý, không phải mọi hoạt động giảm phát thải đều mặc nhiên tạo ra tín chỉ các-bon. Dự án muốn chuyển kết quả giảm phát thải thành tín chỉ phải đáp ứng phương pháp được công nhận, chứng minh tính bổ sung, xác định đường cơ sở và thực hiện đầy đủ các yêu cầu về đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV). Vì vậy, tài chính các-bon nên được xem là nguồn bổ sung tiềm năng thay vì nguồn thu mặc định.

Ở quy mô rộng hơn, GS.TS. Nguyễn Trọng Cơ cho rằng tài chính xanh cần tiếp tục được củng cố thông qua việc hoàn thiện tiêu chuẩn, hệ thống đánh giá và đa dạng hóa sản phẩm tài chính, từ tín dụng, trái phiếu đến thị trường carbon và bảo hiểm rủi ro khí hậu. Đáng chú ý, quản lý môi chất lạnh theo vòng đời cũng có thể mở ra dư địa cho kinh tế tuần hoàn. Khi hạn ngạch HCFC và HFC mới giảm dần, lượng môi chất đang tồn tại trong các thiết bị có thể được thu hồi, tái sử dụng hoặc tái chế, qua đó hạn chế phát thải và giảm nhu cầu sử dụng môi chất mới.

“Tài chính xanh là công cụ huy động nguồn lực cho tăng trưởng bền vững, đồng thời giữ vai trò trụ cột chiến lược giúp Việt Nam định vị vị thế mới trong nền kinh tế toàn cầu. Trong giai đoạn 2026 - 2030, nếu tận dụng hiệu quả cơ hội từ chuyển dịch vốn xanh quốc tế, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thị trường, Việt Nam có thể hình thành hệ sinh thái tài chính xanh hiện đại, hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp và bao trùm”, GS.TS. Nguyễn Trọng Cơ khẳng định.

Quản lý HCFC và HFC là việc kiểm soát, cắt giảm và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và gây hiệu ứng nhà kính theo các cam kết quốc tế. HCFC (Hydrochlorofluorocarbon) là một nhóm chất hóa học dùng làm môi chất lạnh trong điều hòa, thiết bị làm lạnh và công nghiệp bán dẫn. Chất này gây suy giảm tầng ô-dôn. Trong khi đó, HFC (Hydrofluorocarbon) là một nhóm chất tổng hợp không chứa clo, được dùng thay thế cho HCFC. Chất này không phá hủy tầng ô-dôn nhưng lại là khí nhà kính gây biến đổi khí hậu.

Đăng ký đặt báo