Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế xanh đóng góp ít nhất 10% GRDP, giảm tỷ lệ chôn lấp rác thải trực tiếp xuống dưới 10%, đồng thời tăng cường đầu tư hạ tầng xanh, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và cải thiện chất lượng sống của người dân.
Đưa bảo vệ môi trường trở thành động lực phát triển bền vững
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan và tạo sức ép lên môi trường đô thị, TP. Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh, bền vững và thích ứng với những thách thức mới.
UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành kế hoạch triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Thành ủy về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Đây được xem là bước cụ thể hóa các định hướng lớn về phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Theo nội dung được Báo Đại biểu Nhân dân đăng tải ngày 28/10/2026, kế hoạch được xây dựng nhằm triển khai Nghị quyết số 208/NQ-CP của Chính phủ và Kế hoạch số 125-KH/TU của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, hướng tới xây dựng thành phố trở thành đô thị sinh thái bền vững, tiên phong trong phát triển xanh tại khu vực Đông Nam Á.
Điểm đáng chú ý trong định hướng lần này là yêu cầu giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Theo đó, công tác bảo vệ môi trường không chỉ tập trung xử lý các vấn đề ô nhiễm đã phát sinh mà còn phải được tích hợp ngay từ quá trình quy hoạch, lựa chọn dự án đầu tư, tổ chức sản xuất và phát triển hạ tầng đô thị.
Đối với một trung tâm kinh tế lớn như TP. Hồ Chí Minh, áp lực từ tốc độ đô thị hóa, gia tăng dân số, phát triển công nghiệp, giao thông và nhu cầu tiêu thụ năng lượng đang đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý môi trường.
Đặc biệt, sau quá trình sắp xếp, hợp nhất đơn vị hành chính, việc quản lý không gian phát triển rộng lớn hơn đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, địa phương trong kiểm soát nguồn thải, quản lý tài nguyên nước, bảo vệ hệ sinh thái và phòng ngừa rủi ro thiên tai.
Thành phố xác định phát triển kinh tế phải đi đôi với giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và từng bước hình thành mô hình kinh tế carbon thấp.
Đây không chỉ là yêu cầu trong thực hiện các cam kết quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư xanh và phát triển những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.

Đặt mục tiêu kinh tế xanh đóng góp ít nhất 10% GRDP vào năm 2030
Một trong những điểm nhấn quan trọng của kế hoạch là hệ thống mục tiêu phát triển môi trường và kinh tế xanh đến năm 2030, với nhiều chỉ tiêu cụ thể gắn với trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Theo đó, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu nâng cao năng lực quản trị môi trường, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn, giải quyết căn bản tình trạng ngập úng và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Đồng thời, thành phố thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, phấn đấu đưa tỷ trọng kinh tế xanh đạt từ 10% trở lên trong tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP).
Đây là định hướng quan trọng nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, tiêu thụ năng lượng sang mô hình phát triển chú trọng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Việc mở rộng các ngành kinh tế xanh được kỳ vọng tạo thêm dư địa tăng trưởng trong những lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghiệp môi trường, công nghệ sạch, giao thông phát thải thấp, tái chế chất thải và dịch vụ đô thị thông minh.
Cùng với phát triển kinh tế xanh, TP. Hồ Chí Minh đề ra yêu cầu bảo đảm bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.
Nguồn lực này có ý nghĩa quan trọng đối với việc đầu tư hệ thống quan trắc, xử lý chất thải, cải thiện chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Trong lĩnh vực năng lượng, thành phố đặt mục tiêu nâng tỷ lệ công suất các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời và điện rác đạt từ 30% trở lên so với công suất cực đại của hệ thống điện toàn thành phố.
Việc phát triển năng lượng sạch không chỉ góp phần giảm phụ thuộc vào các nguồn nhiên liệu truyền thống mà còn tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực, khuyến khích đầu tư tư nhân, phát triển hạ tầng năng lượng và thúc đẩy ứng dụng công nghệ tiết kiệm điện trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Bên cạnh nguồn vốn ngân sách, việc thu hút các nguồn tài chính xanh, vốn đầu tư quốc tế và các chương trình hợp tác công nghệ được xem là hướng đi cần thiết nhằm giảm áp lực lên nguồn lực công.
Kiểm soát nguồn thải, giảm chôn lấp rác xuống dưới 10%
Quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới.
Theo kế hoạch, thành phố hướng tới kiểm soát và xử lý đạt quy chuẩn đối với 100% cụm công nghiệp, đồng thời bảo đảm thu gom, xử lý toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị và nông thôn.
Đặc biệt, thành phố đặt mục tiêu giảm tỷ lệ chôn lấp rác thải trực tiếp xuống dưới 10%, thông qua việc ứng dụng các công nghệ xử lý hiện đại, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải.
Đây là bước chuyển quan trọng trong phương thức quản lý chất thải, từ xử lý cuối đường ống sang quản lý tổng hợp theo vòng đời sản phẩm và hướng tới kinh tế tuần hoàn.
Trong mô hình truyền thống, phần lớn chất thải sau thu gom được đưa đến các khu xử lý tập trung, trong đó chôn lấp thường chiếm tỷ trọng đáng kể. Phương thức này đòi hỏi quỹ đất lớn, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nước rỉ rác, khí nhà kính và các vấn đề ô nhiễm thứ cấp.
Ngược lại, việc thúc đẩy phân loại rác tại nguồn, tái sử dụng, tái chế và chuyển đổi chất thải thành năng lượng có thể góp phần giảm lượng rác phải chôn lấp, đồng thời tạo ra giá trị kinh tế từ các nguồn tài nguyên thứ cấp.
Để triển khai hiệu quả, thành phố cần đầu tư đồng bộ từ hệ thống thu gom, vận chuyển, trung chuyển đến các cơ sở xử lý chất thải hiện đại, bảo đảm công nghệ phù hợp với đặc điểm và thành phần rác thải.
Cùng với đó, cần tăng cường trách nhiệm của các doanh nghiệp sản xuất, cơ sở kinh doanh và cộng đồng dân cư trong giảm thiểu chất thải nhựa, thực hiện phân loại rác tại nguồn và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Đối với hoạt động công nghiệp, việc kiểm soát nguồn thải phải được thực hiện ngay từ khâu lựa chọn công nghệ, quản lý nguyên liệu, sử dụng năng lượng đến vận hành hệ thống xử lý nước thải và khí thải.
Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp cần tăng cường ứng dụng công nghệ quan trắc tự động, liên tục, kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý để kịp thời phát hiện những nguy cơ gây ô nhiễm.
Việc công khai dữ liệu môi trường và nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra cũng đóng vai trò quan trọng trong ngăn ngừa vi phạm, hướng tới hình thành môi trường sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm.
Phát triển hạ tầng xanh, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao chất lượng đô thị
Bên cạnh nhiệm vụ kiểm soát ô nhiễm, TP. Hồ Chí Minh xác định phát triển không gian xanh, bảo vệ rừng và thúc đẩy công trình xây dựng thân thiện với môi trường là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo kế hoạch, thành phố phấn đấu trồng mới và phục hồi ít nhất 4.460 ha rừng, hướng tới nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 11%. Đồng thời, đặt mục tiêu phát triển và chứng nhận ít nhất 500 công trình xây dựng xanh trên địa bàn.
Việc bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa quan trọng đối với cân bằng sinh thái, hấp thụ carbon, điều hòa khí hậu và hạn chế những tác động bất lợi từ thiên tai.
Đặc biệt, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển đóng vai trò như một hàng rào tự nhiên, góp phần giảm tác động của sóng, triều cường, hạn chế xói lở bờ biển và bảo vệ đa dạng sinh học.
Trong không gian đô thị, việc mở rộng diện tích cây xanh, phát triển công viên, hồ điều hòa và các hành lang sinh thái không chỉ góp phần cải thiện cảnh quan mà còn hỗ trợ giảm hiệu ứng đảo nhiệt, tăng khả năng thấm nước và nâng cao chất lượng sống.
Đối với lĩnh vực xây dựng, phát triển công trình xanh được xem là hướng đi phù hợp trong bối cảnh nhu cầu sử dụng năng lượng và tài nguyên ngày càng tăng.
Những công trình được thiết kế theo tiêu chuẩn xanh có thể giảm tiêu thụ điện, nước, tận dụng ánh sáng tự nhiên, cải thiện chất lượng không khí trong nhà và hạn chế phát thải trong quá trình vận hành.
Tuy nhiên, để các mục tiêu phát triển hạ tầng xanh trở thành hiện thực, thành phố cần chú trọng đồng bộ giữa quy hoạch không gian, chính sách sử dụng đất và cơ chế khuyến khích đầu tư.
Đặc biệt, việc gia tăng diện tích xanh cần gắn với bảo vệ các không gian sinh thái hiện hữu, tránh tình trạng phát triển công trình đô thị làm thu hẹp diện tích cây xanh và mặt nước tự nhiên.
Chủ động ứng phó với ngập úng, nước biển dâng và thiên tai cực đoan
Là đô thị có nhiều khu vực địa hình thấp, chịu ảnh hưởng của triều cường, mưa lớn và biến động dòng chảy, TP. Hồ Chí Minh đối mặt với không ít thách thức trong công tác phòng, chống ngập úng và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong điều kiện quá trình đô thị hóa tiếp tục diễn ra, tình trạng gia tăng bề mặt bê tông, thu hẹp không gian thấm nước và áp lực lên hệ thống thoát nước có thể làm trầm trọng thêm nguy cơ ngập tại nhiều khu vực.
Bởi vậy, các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cần được triển khai theo hướng kết hợp giữa công trình hạ tầng kỹ thuật và giải pháp dựa vào thiên nhiên.
Ngày 17/7/2026, UBND TP. Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 4393/QĐ-UBND về Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn thành phố sau hợp nhất.
Kế hoạch xác định việc nâng cao khả năng chống chịu trước các rủi ro như hạn hán, nắng nóng, mưa lớn, triều cường và nước biển dâng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Đồng thời, thành phố chú trọng lồng ghép yêu cầu thích ứng khí hậu vào quy hoạch ngành, quy hoạch đô thị và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng.
Theo các mục tiêu mới được công bố, TP. Hồ Chí Minh phấn đấu bảo đảm trên 70% hộ dân tại các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai có nhà ở an toàn; đồng thời di dời trên 80% hộ dân sinh sống tại những khu vực có nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ quét đến nơi định cư an toàn.
Đây là những chỉ tiêu gắn trực tiếp với an sinh xã hội và bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân, đặc biệt đối với các nhóm dễ bị tổn thương trước thiên tai.
Để triển khai hiệu quả, công tác quản lý rủi ro cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ mức độ tổn thương của từng khu vực, xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt, sạt lở và tăng cường hệ thống cảnh báo sớm.
Cùng với đó, việc đầu tư hệ thống thoát nước, công trình kiểm soát triều, hồ điều tiết và không gian trữ nước cần được gắn với quy hoạch phát triển đô thị dài hạn.
Các giải pháp dựa vào thiên nhiên như bảo vệ rừng ngập mặn, phục hồi sông rạch, tăng diện tích cây xanh và cải thiện khả năng thấm nước của bề mặt đô thị cũng cần được ưu tiên.
Đặc biệt, công tác phòng, chống thiên tai không chỉ dừng lại ở đầu tư công trình mà cần nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng, xây dựng phương án ứng phó phù hợp với từng địa bàn và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân tại những khu vực có nguy cơ cao.
Huy động nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị môi trường
Để triển khai những mục tiêu đặt ra, TP. Hồ Chí Minh xác định cần đổi mới phương thức quản lý, tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương và huy động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, người dân.
Theo kế hoạch, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao làm cơ quan đầu mối chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện.
UBND thành phố yêu cầu thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu khẩn trương xây dựng, hoàn thành kế hoạch hành động chi tiết trước cuối năm 2026.
Việc phân công rõ trách nhiệm được kỳ vọng tạo chuyển biến trong tổ chức thực hiện, khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ giữa chính sách và thực tiễn triển khai.
Trong đó, cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cụ thể đối với từng lĩnh vực, từ kiểm soát chất thải, cải thiện chất lượng không khí, bảo vệ nguồn nước đến phát triển năng lượng sạch và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
Cùng với nguồn lực ngân sách, thành phố cần mở rộng các hình thức hợp tác công tư, thu hút đầu tư vào công nghệ môi trường, năng lượng tái tạo và hạ tầng thích ứng khí hậu.
Việc thúc đẩy tài chính xanh, tín dụng xanh và các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường cũng có thể tạo động lực để doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải.
Đặc biệt, quá trình chuyển đổi xanh cần có sự tham gia thực chất của khu vực doanh nghiệp thông qua hoạt động sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, thực hiện trách nhiệm môi trường và phát triển chuỗi cung ứng bền vững.
Trong quản lý nhà nước, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và hệ thống quan trắc thông minh có thể hỗ trợ theo dõi diễn biến môi trường, nâng cao khả năng dự báo và giúp cơ quan chức năng đưa ra quyết định kịp thời.
Các thông tin về chất lượng không khí, nguồn nước, chất thải và nguy cơ thiên tai cũng cần được công khai, tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát và chủ động bảo vệ sức khỏe.
Hướng tới đô thị sinh thái, phát triển xanh và phát thải thấp
Với tầm nhìn đến năm 2045, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành đô thị thông minh, hiện đại, có chất lượng môi trường sống cao, phát triển hài hòa với thiên nhiên.
Theo kế hoạch mới được công bố, thành phố còn đề ra khát vọng đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2045, thể hiện định hướng đẩy nhanh chuyển đổi xanh và phát triển nền kinh tế carbon thấp. Đây là mục tiêu của kế hoạch thành phố, sớm hơn mốc cam kết Net Zero năm 2050 của Việt Nam.
Để tiến tới mục tiêu này, thành phố cần thực hiện đồng thời nhiều giải pháp, từ chuyển đổi năng lượng, phát triển giao thông công cộng ít phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong công nghiệp đến bảo vệ rừng và phát triển các mô hình hấp thụ carbon.
Bên cạnh đó, cần tăng cường quản lý tài nguyên theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và từng bước hình thành mô hình sản xuất, tiêu dùng bền vững.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi xanh sẽ không tránh khỏi những khó khăn liên quan đến nguồn vốn đầu tư, hạ tầng kỹ thuật, năng lực công nghệ và sự thích ứng của doanh nghiệp, người dân.
Vì vậy, chính sách môi trường cần được xây dựng theo hướng khả thi, có lộ trình phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế, an sinh xã hội và yêu cầu giảm phát thải.
Đáng chú ý, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã xác định bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh là những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn phát triển mới.
Chương trình được ban hành kèm theo Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 4/8/2026, tạo cơ sở để các bộ, ngành và địa phương cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.
Trong bối cảnh đó, việc TP. Hồ Chí Minh chủ động xây dựng các mục tiêu môi trường gắn với phát triển kinh tế xanh không chỉ góp phần hiện thực hóa định hướng phát triển bền vững của quốc gia mà còn mở ra cơ hội nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của đô thị.
Để tạo ra chuyển biến thực chất, các chỉ tiêu về giảm ô nhiễm, xử lý chất thải, bảo vệ hệ sinh thái và thích ứng khí hậu phải được cụ thể hóa thành chương trình, dự án có tiến độ, nguồn lực và cơ chế giám sát rõ ràng.
Bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu không còn là nhiệm vụ riêng của ngành tài nguyên, môi trường mà phải trở thành yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển đô thị. Với những mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn dài hạn, TP. Hồ Chí Minh đang từng bước định hình mô hình tăng trưởng mới, lấy kinh tế xanh, quản trị môi trường hiện đại và khả năng thích ứng khí hậu làm nền tảng, hướng tới xây dựng một đô thị phát triển năng động, bền vững, an toàn và đáng sống.