Phục hồi chất lượng nước sông Hà Nội: Gỡ nút thắt nguồn thải và phối hợp liên tỉn

Hà Nội cần tiếp cận toàn lưu vực để phục hồi các dòng sông ô nhiễm, kết hợp kiểm soát nguồn thải, xử lý nước thải và phối hợp liên tỉnh.

Phục hồi các dòng sông ô nhiễm tại Hà Nội đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể trên toàn lưu vực, từ kiểm soát nguồn thải, đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải đến duy trì dòng chảy, tăng cường quan trắc và chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương. Xác định rõ trách nhiệm phối hợp liên tỉnh và huy động nguồn lực là những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả phục hồi chất lượng nguồn nước.

Tại hội nghị phối hợp triển khai công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn Hà Nội ngày 21/10/2026, đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng thành phố Hà Nội tiếp tục trao đổi về những vấn đề môi trường trọng tâm của Thủ đô. Trong đó, ô nhiễm các dòng sông được xác định là một trong những bài toán lớn cần tập trung giải quyết, bên cạnh ngập lụt, ô nhiễm không khí và xử lý chất thải rắn.

Thực tế cho thấy, chất lượng nước tại một đoạn sông không chỉ phụ thuộc vào hoạt động diễn ra ngay bên bờ sông đó. Nguồn thải từ khu dân cư, cơ sở sản xuất, làng nghề, hoạt động chăn nuôi hoặc từ những khu vực nằm ở thượng nguồn đều có thể tác động đến chất lượng nước ở hạ lưu. Vì vậy, phục hồi sông cần được đặt trong mối liên hệ với toàn bộ lưu vực và hệ thống tiêu thoát nước liên quan.

Ô nhiễm dòng sông là bài toán của cả lưu vực

Hà Nội có mạng lưới sông, hồ, kênh, mương gắn với nhiều chức năng như tiêu thoát nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp, điều hòa cảnh quan và duy trì hệ sinh thái. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, gia tăng dân số và phát triển sản xuất cũng tạo thêm áp lực đối với hệ thống tiếp nhận nước thải.

Tại nhiều khu vực, nước thải sinh hoạt, nước thải từ hoạt động sản xuất và dòng chảy cuốn theo chất ô nhiễm có thể cùng đổ vào kênh, mương trước khi đi vào các tuyến sông. Khi lượng chất thải vượt quá khả năng tiếp nhận, tự làm sạch của nguồn nước, tình trạng ô nhiễm có thể kéo dài và lan rộng.

Đối với các hệ thống sông, công trình thủy lợi liên quan đến nhiều địa phương, tác động còn vượt qua ranh giới hành chính. Một điểm xả thải hoặc sự cố môi trường ở khu vực đầu nguồn có thể ảnh hưởng đến người dân và hoạt động sản xuất tại những địa bàn phía sau.

Điều này đặt ra yêu cầu nhìn nhận dòng sông như một hệ thống liên thông. Việc cải thiện một đoạn sông sẽ khó duy trì hiệu quả nếu các nguồn ô nhiễm tiếp tục phát sinh ở những khu vực khác trong cùng lưu vực.

Tại hội nghị ngày 21/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết đã phối hợp, hướng dẫn Hà Nội về quy mô, vị trí các nhà máy xử lý nước thải và việc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật, góp phần tháo gỡ khó khăn trong triển khai Đề án phát triển tổng thể Hà Nội cần tiếp cận toàn lưu vực để phục hồi các dòng sông ô nhiễm, kết hợp kiểm soát nguồn thải, xử lý nước thải và phối hợp liên tỉnh., phục vụ đa mục tiêu và bảo vệ môi trường bền vững. Đây là một ví dụ cho thấy yêu cầu gắn đầu tư xử lý nước thải với quản lý một hệ thống thủy lợi có phạm vi liên tỉnh.

nhan-ngay-quoc-te-hanh-dong-vi-cac-dong-song-14-3-nghi-ve-song-to-lich-130618-674-165441-103633-432-1793074538.jpg

Kiểm soát nguồn thải là điều kiện để phục hồi bền vững

Để cải thiện chất lượng nước, trước hết cần nhận diện đầy đủ các nguồn thải trong lưu vực: nước thải phát sinh ở đâu, khối lượng như thế nào, được thu gom và xử lý ra sao, cuối cùng đi vào nguồn nước qua những vị trí nào.

Trên cơ sở đó, các địa phương có thể rà soát, phân loại nguồn thải theo tính chất và mức độ tác động; ưu tiên xử lý những điểm xả lớn, khu vực ô nhiễm kéo dài hoặc những nơi có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất và đời sống người dân.

Với nước thải sinh hoạt, yêu cầu quan trọng là mở rộng hệ thống thu gom, kết nối các khu dân cư với công trình xử lý phù hợp. Việc đầu tư nhà máy cần đi cùng mạng lưới đường ống, trạm bơm và phương án vận hành để nước thải thực sự được đưa về xử lý.

Đối với cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp và làng nghề, việc kiểm tra, giám sát cần gắn với yêu cầu xử lý nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường. Các trường hợp vi phạm phải được phát hiện, xử lý theo quy định; đồng thời cần hỗ trợ cơ sở sản xuất tiếp cận giải pháp công nghệ phù hợp để giảm phát sinh ô nhiễm.

Ở khu vực nông thôn, công tác quản lý nguồn thải cũng cần tính đến đặc điểm phân tán của dân cư và hoạt động chăn nuôi. Tùy điều kiện từng địa bàn, có thể nghiên cứu kết hợp các mô hình xử lý tập trung, phân tán hoặc tại chỗ với việc quản lý chất thải trong sản xuất nông nghiệp.

Cùng với đầu tư hạ tầng, việc ngăn rác thải sinh hoạt, phế thải và các hành vi đổ thải trái phép xuống sông, kênh, mương cần được duy trì thường xuyên. Nếu các nguồn gây ô nhiễm vẫn tiếp tục tồn tại, kết quả làm sạch dòng sông sẽ khó bền vững.

Đầu tư hạ tầng xử lý gắn với duy trì dòng chảy

Phục hồi sông ô nhiễm không chỉ là xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường mà còn cần quan tâm đến điều kiện dòng chảy và khả năng phục hồi của hệ sinh thái.

Tại những đoạn sông có dòng chảy yếu, nước lưu thông kém, chất ô nhiễm có thể tích tụ và làm gia tăng mùi hôi, đặc biệt vào thời điểm khô hạn. Vì vậy, các phương án cải tạo cần xem xét tổng thể chế độ vận hành công trình thủy lợi, khả năng bổ sung nước, nhu cầu tiêu thoát và đặc điểm của từng đoạn sông.

Việc bổ sung nước, tăng lưu thông dòng chảy có thể góp phần cải thiện điều kiện môi trường ở một số khu vực. Tuy nhiên, giải pháp này cần được tính toán về nguồn nước, chất lượng nước bổ sung và tác động đến các khu vực liên quan. Kiểm soát nước thải đầu vào vẫn là điều kiện cần thiết để duy trì kết quả lâu dài.

Các hoạt động nạo vét bùn, khơi thông dòng chảy và cải tạo cảnh quan cũng cần được nghiên cứu trên cơ sở đánh giá hiện trạng cụ thể. Bùn nạo vét phải được phân loại, quản lý và xử lý phù hợp, tránh chuyển ô nhiễm từ lòng sông sang khu vực khác.

Bên cạnh công trình kỹ thuật, việc bảo vệ hành lang nguồn nước, duy trì không gian xanh ven sông và hạn chế lấn chiếm cũng có ý nghĩa đối với khả năng phục hồi cảnh quan, hệ sinh thái và chức năng thoát nước của dòng sông.

Tăng phối hợp liên tỉnh và chia sẻ dữ liệu quan trắc

Một trong những thách thức đối với các lưu vực sông liên tỉnh là sự khác biệt về phạm vi quản lý, điều kiện kinh tế và khả năng đầu tư giữa các địa phương. Nếu mỗi nơi chỉ xử lý phần việc trong địa giới của mình mà thiếu cơ chế điều phối chung, hiệu quả cải thiện chất lượng nước có thể bị hạn chế.

Do đó, cần xác định rõ cơ quan đầu mối, trách nhiệm của từng địa phương và phương thức phối hợp trong quản lý các nguồn thải có tác động xuyên địa giới. Việc phối hợp cần bao gồm chia sẻ thông tin, kiểm tra các nguồn gây ô nhiễm, ứng phó sự cố và theo dõi kết quả thực hiện.

Theo thông tin tại hội nghị ngày 21/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với Hà Nội và các địa phương lân cận trong xây dựng cơ chế hợp tác bảo vệ môi trường Vùng Thủ đô. Đây là cơ sở để tăng cường phối hợp kiểm soát nguồn thải trong phạm vi rộng hơn địa giới của từng tỉnh, thành phố.

Cùng với cơ chế phối hợp, dữ liệu quan trắc cần được kết nối, cập nhật và chia sẻ kịp thời. Việc theo dõi chất lượng nước ở các vị trí phù hợp, nhất là khu vực tiếp giáp giữa các địa phương và nơi có nguồn thải lớn, sẽ hỗ trợ nhận diện xu hướng ô nhiễm và đánh giá hiệu quả các biện pháp đã triển khai.

Dữ liệu quan trắc cũng cần được sử dụng để cảnh báo sớm khi chất lượng nước suy giảm hoặc xảy ra sự cố. Thông tin công khai, dễ tiếp cận sẽ giúp người dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương cùng tham gia giám sát, bảo vệ nguồn nước.

Để việc phối hợp đi vào thực chất, các chương trình phục hồi nên có mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn, gắn với chỉ số đánh giá chất lượng nước, tiến độ kiểm soát nguồn thải và trách nhiệm thực hiện của từng cơ quan.

Huy động nguồn lực, hướng tới phục hồi lâu dài

Phục hồi các dòng sông là quá trình dài, đòi hỏi nguồn vốn lớn và chi phí vận hành thường xuyên. Nguồn lực không chỉ dành cho xây dựng nhà máy xử lý nước thải mà còn phục vụ thu gom, quan trắc, duy tu công trình, quản lý bùn thải và phục hồi cảnh quan, hệ sinh thái.

Vì vậy, cùng với ngân sách nhà nước, Hà Nội và các địa phương trong lưu vực có thể nghiên cứu huy động các nguồn vốn hợp pháp khác, phù hợp với quy định và đặc điểm từng dự án. Việc lựa chọn phương án đầu tư cần tính đủ chi phí vận hành, bảo trì và hiệu quả xử lý trong suốt quá trình sử dụng.

Cơ chế huy động nguồn lực cũng cần gắn với trách nhiệm của các bên liên quan. Những tổ chức, cá nhân phát sinh nước thải phải thực hiện nghĩa vụ xử lý, chi trả các khoản phí theo quy định và chịu trách nhiệm khi gây ô nhiễm.

Về phía cộng đồng, người dân có thể tham gia giám sát điểm xả thải, phản ánh kịp thời các dấu hiệu ô nhiễm và cùng bảo vệ cảnh quan ven sông. Sự tham gia của cộng đồng sẽ hiệu quả hơn khi thông tin về kế hoạch phục hồi và kết quả quan trắc được công bố rõ ràng.

Làm sống lại các dòng sông không thể chỉ dựa vào một dự án hay một địa phương. Khi kiểm soát nguồn thải, đầu tư hạ tầng xử lý, duy trì dòng chảy và phối hợp liên tỉnh được triển khai đồng bộ, Hà Nội mới có thêm điều kiện để từng bước cải thiện chất lượng nước, phục hồi cảnh quan và xây dựng môi trường sống bền vững.

Đăng ký đặt báo