
Mục tiêu 74 tỷ USD đối mặt nhiều áp lực trong chặng nước rút
Bước sang những tháng cuối năm, ngành nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu phải tăng tốc để hoàn thành mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 74 tỷ USD trong năm 2026. Dù kết quả đạt được trong 7 tháng đầu năm tương đối khả quan, áp lực từ biến động thương mại toàn cầu, chi phí logistics leo thang cùng hàng loạt quy định kỹ thuật ngày càng nghiêm ngặt tại các thị trường nhập khẩu được dự báo sẽ khiến chặng đường còn lại nhiều thách thức hơn.
Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản diễn ra chiều 30/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết đến hết tháng 7, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành ước đạt gần 42,6 tỷ USD, tăng khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2025 và hoàn thành 57,6% kế hoạch năm. Trước đó, trong 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ, trong khi cán cân thương mại tiếp tục duy trì mức xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD.
Báo cáo tại hội nghị, ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết dù kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt nhiều biến động, ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò là một trong những trụ cột của nền kinh tế. GDP toàn ngành trong nửa đầu năm 2026 ước tăng từ 3,8-3,85%, cao hơn mục tiêu 3,7% được Chính phủ giao.
Theo định hướng của Bộ, mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm là 4%, đồng thời đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt ngưỡng 74 tỷ USD. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ xác định tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của các nhóm hàng chủ lực như gỗ và sản phẩm gỗ với mục tiêu 17,7 tỷ USD, thủy sản 12,034 tỷ USD, rau quả 9,81 tỷ USD, cà phê 9,64 tỷ USD, hạt điều 5,42 tỷ USD, sắn và sản phẩm sắn 1,34 tỷ USD, sản phẩm chăn nuôi 686 triệu USD và chè 239 triệu USD. Song song với đó, các mặt hàng có dấu hiệu suy giảm như gạo và cao su sẽ được theo dõi sát để kịp thời có giải pháp hỗ trợ.
Siết quản lý mã số vùng trồng, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
Không chỉ hướng đến tăng trưởng về quy mô, ngành nông nghiệp đang chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng, tính minh bạch và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh toàn ngành cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy thị trường, lấy chất lượng, uy tín và minh bạch làm nền tảng để giữ vững thị trường xuất khẩu.
Theo Bộ trưởng, trong bối cảnh các nước gia tăng bảo hộ thương mại và siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, công tác quản lý nhà nước cũng phải thay đổi theo hướng đồng hành cùng doanh nghiệp thay vì chỉ quản lý hành chính.
"Nhà nước đồng hành tháo gỡ thể chế, mở cửa thị trường, nhưng không thể làm thay doanh nghiệp trong quản trị chất lượng và tổ chức sản xuất", Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh.
Ông cũng yêu cầu việc điều hành xuất khẩu phải gắn chặt với dữ liệu từ Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia, chính thức vận hành từ ngày 1/7/2026, nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng phản ứng trước các rào cản kỹ thuật từ thị trường quốc tế.
Một trong những nội dung được nhiều hiệp hội doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, quá trình cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói hiện vẫn còn nhiều thủ tục phức tạp, thời gian xử lý kéo dài, nhất là vào cao điểm thu hoạch, làm ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng và phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp.
Đáng chú ý, tình trạng mua bán, giả mạo mã số vùng trồng vẫn diễn ra tại một số địa phương, tiềm ẩn nguy cơ khiến hàng hóa Việt Nam bị các thị trường nhập khẩu cảnh báo, thậm chí dừng nhập khẩu. Trước thực trạng này, hiệp hội kiến nghị đơn giản hóa quy trình cấp mã số, đẩy mạnh số hóa dữ liệu, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời tăng cường phổ biến các quy định về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn SPS và sản xuất phát thải thấp.
Đáp lại những kiến nghị của doanh nghiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết từ ngày 1/8/2026, quy trình cấp mã số vùng trồng sẽ được cải cách mạnh, rút ngắn thời gian xử lý từ 10 ngày xuống còn 3 ngày nhằm hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp, đặc biệt đối với các mặt hàng xuất khẩu có nhu cầu lớn như sầu riêng.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cũng đề nghị sớm tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến hoàn thuế, chứng từ mua bán, thúc đẩy đàm phán với Trung Quốc về công nhận kết quả kiểm nghiệm, kiểm dịch cũng như kết nối dữ liệu hải quan để rút ngắn thời gian thông quan.
Đối với ngành hàng lúa gạo, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, cho biết Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam nhưng các quy định nhập khẩu mới đang tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp. Hiệp hội kiến nghị Bộ tăng cường đối thoại với phía Philippines để tháo gỡ các rào cản, đồng thời mở rộng thị trường sang châu Phi và nhiều khu vực tiềm năng khác nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Ông Nam cũng đề xuất xây dựng chính sách tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp và nông dân, nghiên cứu cơ chế thanh toán để doanh nghiệp có thể thu mua trực tiếp từ nông dân, qua đó giảm chi phí trung gian và cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng.
Ở lĩnh vực thủy sản, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định kim ngạch xuất khẩu cả năm có thể đạt từ 12,3-12,5 tỷ USD nếu những điểm nghẽn về nguyên liệu và logistics được xử lý hiệu quả. Hiệp hội đề xuất Chính phủ sớm có giải pháp giảm chi phí vận tải, phát triển đội tàu container lạnh nhằm hạn chế phụ thuộc vào các hãng tàu nước ngoài.
Trước những rủi ro từ chuỗi cung ứng toàn cầu và các tiêu chuẩn xanh như Quy định chống mất rừng của EU (EUDR), Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tập trung hỗ trợ các ngành hàng có nguy cơ suy giảm giá trị xuất khẩu thông qua việc tăng cường tín dụng lưu động, cơ cấu lại nợ, đầu tư kho lạnh, hệ thống bảo quản sau thu hoạch và tháo gỡ khó khăn về logistics, tín dụng, thông quan.
Cùng với đó, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để mở rộng thị trường thay thế, cơ cấu lại phân khúc sản phẩm, gia tăng tỷ trọng chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng. Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp chủ động phản ánh kịp thời các vướng mắc phát sinh, đồng thời khẳng định mục tiêu cuối cùng là xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam có sức cạnh tranh cao, phát triển bền vững và hoàn thành mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD trong năm 2026.