
Mở rộng vùng sản xuất, cải thiện hiệu quả kinh tế
Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” đang từng bước đưa các phương thức canh tác bền vững từ mô hình thí điểm vào sản xuất trên diện rộng. Thay vì chỉ tập trung nâng cao sản lượng, ngành lúa gạo hướng đến sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm chi phí đầu vào, cải thiện thu nhập cho người trồng lúa và hạn chế tác động đến môi trường.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến tháng 8/2026, diện tích lúa áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình sản xuất bền vững tại ĐBSCL và Tây Ninh đã vượt 420.800 ha, với hơn 175.000 hộ đăng ký tham gia. Đến hết tháng 9/2026, riêng khu vực ĐBSCL ghi nhận 420.813 ha cùng trên 175.000 hộ dân tham gia áp dụng quy trình canh tác theo Đề án. Diện tích được nhân rộng nhanh so với mục tiêu giai đoạn đầu, tạo cơ sở để tiếp tục mở rộng trong vụ đông xuân 2026 - 2027.
Những kết quả trên có ý nghĩa trong bối cảnh sản xuất lúa vẫn chịu áp lực từ chi phí vật tư nông nghiệp, yêu cầu tiết kiệm tài nguyên và tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Các mô hình thuộc Đề án cho thấy lượng giống gieo sạ có thể giảm 30 - 50%, phân bón hóa học giảm 20 - 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2 - 3 lần mỗi vụ và lượng nước tưới tiết kiệm từ 20 - 40%. Trong khi đó, năng suất tăng khoảng 5 - 12%, lợi nhuận cải thiện từ 1,5 - 9,3 triệu đồng/ha/vụ, tùy điều kiện sản xuất và quy trình áp dụng.
Việc giảm lượng giống, phân bón và nước tưới không chỉ giúp nông dân tiết kiệm chi phí mà còn góp phần hạn chế lãng phí tài nguyên, giảm áp lực lên môi trường canh tác. Đây là yếu tố quan trọng để người sản xuất có động lực duy trì phương thức canh tác mới, bởi lợi ích kinh tế trước mắt gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển bền vững lâu dài.
Trong năm 2026, khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL ước có hơn 4,038 triệu ha lúa gieo trồng, năng suất bình quân 64,3 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha so với năm 2025, sản lượng gần 26 triệu tấn. Riêng ĐBSCL đạt trên 3,25 triệu ha, năng suất bình quân 65,5 tạ/ha và sản lượng trên 21,3 triệu tấn. Với vai trò là vùng sản xuất lúa trọng điểm, việc chuyển đổi phương thức canh tác tại khu vực này có ý nghĩa đáng kể đối với mục tiêu nâng cao chất lượng và giá trị ngành hàng.
Không chỉ tạo ra thay đổi về kỹ thuật, Đề án còn thúc đẩy tổ chức lại sản xuất thông qua hình thành vùng nguyên liệu tập trung, tăng cường liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước đưa yêu cầu của thị trường vào quá trình canh tác. Tuy nhiên, hiệu quả giữa các địa phương vẫn có sự khác biệt do điều kiện đất đai, nguồn nước, hệ thống thủy lợi và hạ tầng sản xuất không đồng nhất. Vì vậy, việc mở rộng diện tích cần đi kèm hướng dẫn kỹ thuật phù hợp từng vùng, đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực tổ chức sản xuất.
Từ hiệu quả đồng ruộng đến giá trị thương hiệu gạo xanh
Cùng với chuyển đổi phương thức canh tác, xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” được xác định là hướng đi quan trọng nhằm chuyển những lợi ích về môi trường thành giá trị thương mại. Khi người tiêu dùng và các đối tác nhập khẩu ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc và trách nhiệm môi trường, khả năng chứng minh quy trình sản xuất trở thành một trong những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam.

Đề án đã ghi nhận những bước tiến ban đầu trong xây dựng thương hiệu với sự tham gia của Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam. Đáng chú ý, nhãn hiệu tập thể “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hoàn thiện quy chế quản lý, điều kiện sử dụng nhãn hiệu, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Trước đó, những lô gạo đầu tiên mang nhãn hiệu đã được xuất khẩu, cho thấy quá trình chuyển đổi đang từng bước đi từ áp dụng kỹ thuật canh tác mới sang phát triển sản phẩm có nhận diện riêng trên thị trường. Tuy nhiên, để thương hiệu tạo dựng được vị thế lâu dài, việc đăng ký nhãn hiệu hay đưa sản phẩm ra nước ngoài mới chỉ là bước khởi đầu. Giá trị của gạo xanh cần được bảo đảm bằng chất lượng ổn định, dữ liệu minh bạch và kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng.
Kinh nghiệm từ Dự án Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo thích ứng với biến đổi khí hậu và bền vững tại ĐBSCL (TRVC), do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia hỗ trợ thông qua SNV Việt Nam, cung cấp những gợi mở đáng chú ý. Theo TS. Trần Thu Hà, Giám đốc Dự án TRVC, đến cuối vụ thứ ba, diện tích lũy kế qua các mùa vụ của dự án đạt hơn 84.400 ha, lượng giảm phát thải được báo cáo gần 321.000 tấn CO₂ tương đương, trong khi lợi nhuận của các hộ sản xuất nhỏ tăng hơn 56%.
Đặc biệt, hơn 123.100 tấn gạo của các doanh nghiệp tham gia dự án đã được cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh - Phát thải thấp”, trong đó gần 53.900 tấn được xuất khẩu. Kết quả này cho thấy việc kết hợp quy trình sản xuất bền vững với liên kết doanh nghiệp và thị trường có thể tạo ra giá trị cụ thể, đồng thời mở ra cơ hội để nông dân tiếp cận các chuỗi tiêu thụ có yêu cầu cao hơn.
Để chứng minh tính xác thực của sản phẩm, các chủ thể trong chuỗi giá trị cần thực hiện đầy đủ việc ghi chép và quản lý dữ liệu. Nông dân theo dõi nhật ký đồng ruộng, lượng giống, phân bón, nước tưới và biện pháp quản lý rơm rạ; hợp tác xã tổng hợp thông tin, giám sát quy trình; doanh nghiệp kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc trong khâu thu mua, chế biến và phân phối.
Đặc biệt, kết quả giảm phát thải cần được xác định thông qua hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV). Đây là cơ sở để phân biệt giữa sản phẩm được canh tác theo hướng thân thiện với môi trường và sản phẩm có mức giảm phát thải được xác nhận theo các tiêu chí cụ thể. Khi dữ liệu đủ tin cậy, thương hiệu mới có thể củng cố niềm tin của người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu và tạo lợi thế cạnh tranh vượt ra ngoài yếu tố giá bán.
Hoàn thiện liên kết chuỗi, bảo đảm lợi ích người trồng lúa
Để các kết quả ban đầu được duy trì và nhân rộng, việc phát triển vùng nguyên liệu cần song hành với năng lực thu mua, chế biến và tiêu thụ của doanh nghiệp. Nếu chỉ mở rộng diện tích mà thiếu hợp đồng đầu ra ổn định, nông dân và hợp tác xã sẽ khó chủ động đầu tư, còn doanh nghiệp cũng thiếu cơ sở bảo đảm nguồn cung đồng nhất về chất lượng và quy trình sản xuất.

Từ thực tiễn tham gia Đề án, ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Phân bón Bình Điền, đề xuất tăng cường hợp tác công tư để đánh giá các mô hình theo hệ thống tiêu chí thống nhất. Việc đánh giá cần làm rõ chi phí sản xuất, lợi nhuận của nông dân, chất lượng lúa và mức giảm phát thải được xác nhận. Ông cũng kiến nghị hỗ trợ chi phí chuyển đổi ban đầu cho hợp tác xã và người trồng lúa, đồng thời tăng cường theo dõi sức khỏe đất, quản lý dinh dưỡng theo từng vùng nhằm bảo đảm hiệu quả canh tác lâu dài.
Ở góc độ tổ chức sản xuất, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bùi Bá Bổng cho rằng cần chủ động xây dựng vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp, không nên chờ doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu mới bắt đầu triển khai. Theo ông, hệ thống thủy lợi, cơ giới hóa và tự động hóa cần được ưu tiên để tạo điều kiện áp dụng quy trình đồng bộ, giảm chi phí và nâng cao khả năng cung ứng ổn định.
Ông Bùi Bá Bổng đề xuất trước mắt hướng tới khoảng 500.000 ha có hợp đồng bao tiêu, với khoảng 10 doanh nghiệp tham gia, mỗi doanh nghiệp liên kết 50.000 ha. Đây là phương án nhằm phát triển vùng nguyên liệu song song với mở rộng năng lực thu mua, qua đó tăng tính ổn định cho chuỗi cung ứng lúa gạo.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, Đề án 1 triệu ha là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển đổi tổ chức sản xuất lúa gạo tại ĐBSCL. Thành công không chỉ được đánh giá qua diện tích tham gia mà còn phải thể hiện ở chất lượng hạt gạo, hiệu quả sản xuất, thu nhập của nông dân, mức giảm phát thải có thể kiểm chứng và sức cạnh tranh lâu dài của ngành hàng.
“Chúng ta không thể để người nông dân một mình gánh vác chi phí của quá trình chuyển đổi”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, đồng thời lưu ý việc khuyến khích phương thức canh tác giảm phát thải phải đi cùng cơ chế bảo đảm quyền lợi, tránh nguy cơ giảm thu nhập của người sản xuất.
Theo định hướng này, nông dân cần được đặt ở vị trí trung tâm, doanh nghiệp giữ vai trò tạo động lực thị trường, còn khoa học và công nghệ là nền tảng hỗ trợ chuyển đổi. Nhà nước có trách nhiệm hoàn thiện cơ chế, chính sách, đầu tư hạ tầng và quản trị rủi ro; đồng thời huy động thêm nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật từ các định chế tài chính, tổ chức quốc tế và đối tác phát triển. Việc phối hợp các dự án trong một chương trình tổng thể cũng sẽ giúp nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn, bảo đảm tính kế thừa và bổ trợ giữa các hoạt động.
Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xúc tiến đề xuất điều chỉnh Quyết định số 1490 về Đề án 1 triệu ha lúa nhằm tạo điều kiện cho giai đoạn triển khai tiếp theo. Cùng với hoàn thiện chính sách, đầu tư thủy lợi, giao thông nội đồng, cơ giới hóa và hạ tầng dữ liệu sẽ là những yếu tố quan trọng để mở rộng quy trình sản xuất phát thải thấp.
Từ những thay đổi trên đồng ruộng đến các lô gạo mang nhãn hiệu xanh được xuất khẩu, Đề án đang tạo nền tảng cho quá trình nâng cấp ngành lúa gạo Việt Nam. Để cơ hội này trở thành lợi thế bền vững, cần tiếp tục gắn hiệu quả kinh tế với kết quả môi trường, củng cố liên kết tiêu thụ và bảo đảm người trồng lúa được hưởng lợi tương xứng. Khi sản xuất xanh được chứng minh bằng dữ liệu và hỗ trợ bởi một chuỗi giá trị ổn định, hạt gạo Việt Nam sẽ có thêm cơ sở để nâng cao giá trị, khẳng định thương hiệu và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.