Hà Nội tăng tốc chuyển đổi xanh trong sản xuất và phân phối nông sản

Trước yêu cầu giảm phát thải và hạn chế ô nhiễm nhựa, Hà Nội đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ bảo quản nông sản sau thu hoạch, đồng thời khuyến khích phát triển vật liệu bao gói thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, để các giải pháp này vượt khỏi phạm vi nghiên cứu, thử nghiệm và được ứng dụng rộng rãi, thành phố cần giải quyết những điểm nghẽn về chi phí, cơ chế hỗ trợ và khả năng kết nối thị trường.
nong-nghiep-xanh-1793097199.jpg
Hà Nội thúc đẩy giải pháp xanh trong bảo quản và đóng gói nông sản.

Đổi mới công nghệ, nâng giá trị nông sản theo hướng tuần hoàn

Trong định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, Hà Nội đặt mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn không chỉ là định hướng dài hạn mà còn là yêu cầu đặt ra đối với từng ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp trên địa bàn.

Đối với nông nghiệp, thành phố hướng tới xây dựng nền sản xuất sinh thái, xanh và phát thải thấp, trong đó giá trị gia tăng của nông sản được cải thiện thông qua việc sử dụng tiết kiệm đất đai, nguồn nước, năng lượng và vật tư đầu vào. Song song với nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, việc hạn chế tổn thất sau thu hoạch, tận dụng phụ phẩm và giảm lượng chất thải phát sinh cũng được xác định là những nhiệm vụ quan trọng.

Các định hướng này đang từng bước được cụ thể hóa bằng chính sách. Nghị quyết số 22/2025/NQ-HĐND về các biện pháp giảm phát thải nhựa trên địa bàn thành phố và Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 26/11/2025 về thực hiện vùng phát thải thấp tạo thêm cơ sở thúc đẩy quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất, phân phối theo hướng thân thiện với môi trường.

Trong chuỗi giá trị nông nghiệp, bảo quản và bao gói là những công đoạn có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, thời gian sử dụng và giá trị thương mại của sản phẩm. Nếu không được kiểm soát tốt, nông sản có thể suy giảm chất lượng trong quá trình sơ chế, vận chuyển, lưu kho và phân phối, làm gia tăng tỷ lệ hao hụt cũng như chi phí của các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng.

bao-quan-nong-san-1793097260.webp
Bảo quản và bao gói đúng cách góp phần duy trì chất lượng, kéo dài thời gian sử dụng và nâng cao giá trị nông sản.

Tiến sĩ Phạm Thị Liên, Hội Nữ trí thức Hà Nội, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm Nông nghiệp Công nghệ cao, Viện Di truyền Nông nghiệp, cho biết chất lượng nông sản liên tục biến đổi sau khi thu hoạch. Vì vậy, bảo quản cần được nhìn nhận như một mắt xích quan trọng trong toàn bộ chuỗi giá trị, thay vì chỉ là công đoạn bổ trợ cho sản xuất.

Theo đó, việc ứng dụng công nghệ cao cần tập trung kiểm soát các điều kiện bảo quản, duy trì chất lượng sản phẩm và kéo dài thời gian sử dụng phù hợp. Những giải pháp này không chỉ góp phần hạn chế thất thoát nông sản mà còn tạo điều kiện giảm sự phụ thuộc vào các loại màng, túi nhựa dùng một lần trong quá trình đóng gói và lưu thông hàng hóa.

Yêu cầu chuyển đổi cũng đặt ra đối với vật liệu bao bì. Tiến sĩ Trần Thị Hòa, nguyên phụ trách phòng dự án Liên hợp quốc, Viện Di truyền Nông nghiệp, cho biết bao bì giữ vai trò bảo vệ nông sản, thực phẩm trước những tác động cơ học, độ ẩm, oxy, vi sinh vật và các yếu tố bất lợi khác trong quá trình vận chuyển, bảo quản.

Tuy nhiên, phần lớn bao bì nhựa truyền thống được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc hóa thạch, tồn lưu lâu trong môi trường và khó thu hồi, tái chế khi bị lẫn tạp chất hữu cơ từ thực phẩm. Thực tế này đặt ra yêu cầu phát triển các vật liệu mới có nguồn gốc tái tạo, khả năng phân hủy sinh học hoặc phù hợp với những chu trình xử lý, tái sử dụng an toàn.

Dù vậy, lựa chọn vật liệu thay thế không thể chỉ dựa trên tiêu chí môi trường. Bao bì cần đáp ứng các yêu cầu về độ bền, khả năng bảo vệ sản phẩm, tính an toàn và điều kiện sử dụng thực tế. Tương tự, công nghệ bảo quản phải phù hợp với đặc điểm từng loại nông sản, quy mô sản xuất và năng lực đầu tư của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để các giải pháp xanh phát huy hiệu quả thay vì chỉ dừng ở những mô hình trình diễn.

Gỡ rào cản giá thành, kết nối nghiên cứu với thị trường

Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và khả năng thương mại hóa. Nhiều giải pháp có tiềm năng về công nghệ nhưng chưa thể triển khai trên quy mô lớn do chi phí sản xuất cao, trong khi bao bì nhựa truyền thống vẫn có lợi thế về giá và mức độ phổ biến. Khi giá bán chênh lệch đáng kể, doanh nghiệp phân phối và người tiêu dùng thường phải cân nhắc giữa lợi ích môi trường với khả năng chi trả.

Để thu hẹp khoảng cách này, PGS.TS Nguyễn Thị Chính, nguyên Phó Chủ nhiệm Bộ môn Vi sinh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, đề xuất cơ quan quản lý chủ động đưa ra những yêu cầu nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế. Thành phố có thể tổ chức các cuộc thi sáng tạo giải pháp thay thế túi ni-lông, đi kèm hệ thống tiêu chí cụ thể về chất lượng, độ an toàn, độ bền cơ học và tính khả thi về kinh tế.

Cách tiếp cận này giúp định hướng hoạt động nghiên cứu vào những vấn đề thị trường đang cần giải quyết, đồng thời tạo cơ hội để doanh nghiệp và giới khoa học phối hợp hoàn thiện sản phẩm. Thay vì phát triển công nghệ tách rời nhu cầu sử dụng, các đề tài cần được xây dựng trên cơ sở xác định rõ đối tượng ứng dụng, quy mô sản xuất dự kiến và yêu cầu về giá thành.

Ở khâu tiêu thụ, sự tham gia của hệ thống phân phối được xem là yếu tố quan trọng để mở rộng thị trường cho sản phẩm xanh. Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam Trần Thị Phương Lan khẳng định, các hệ thống bán lẻ và siêu thị hiện đại sẵn sàng tiếp nhận những sản phẩm sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, mức giá cao vẫn là trở ngại đáng kể đối với khả năng cạnh tranh và quyết định mua sắm của người tiêu dùng.

san-pham-xanh-1793097391.jpg
Các hệ thống bán lẻ mở rộng cơ hội tiêu thụ sản phẩm sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường.

Theo đó, nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp về thuế, tín dụng hoặc bù đắp một phần chi phí ban đầu, các đơn vị sản xuất vật liệu xanh sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì quy mô công nghiệp, giảm giá thành và mở rộng độ phủ trên thị trường. Cùng với hỗ trợ tài chính, công tác tuyên truyền cần được duy trì nhằm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, khuyến khích lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường và hạn chế xu hướng quay lại sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm.

Ở góc độ thực thi chính sách, ông Nguyễn Như Tiệp, nguyên Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, cho rằng Hà Nội đã có hệ thống văn bản tương đối đầy đủ để thúc đẩy chuyển đổi xanh. Vấn đề cần tập trung là tổ chức thực hiện hiệu quả và nâng cao khả năng tiếp cận chính sách của doanh nghiệp.

Theo ông, các nhà sản xuất cần chủ động đặt hàng nghiên cứu từ giới khoa học, xác định những yêu cầu cụ thể về chất lượng, công nghệ và chi phí để phát triển sản phẩm phù hợp với thị trường. Đồng thời, cơ quan quản lý cần phát huy vai trò của các quỹ khoa học và công nghệ, nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp để thúc đẩy quá trình hoàn thiện công nghệ, tổ chức sản xuất và thương mại hóa sản phẩm.

Về lâu dài, việc phát triển công nghệ bảo quản và bao bì sinh học cần được triển khai đồng bộ từ nghiên cứu, sản xuất đến phân phối và tiêu dùng. Khi doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn lực hỗ trợ, nhà khoa học giải quyết đúng nhu cầu thực tiễn và hệ thống bán lẻ tham gia ngay từ đầu, các sản phẩm xanh sẽ có thêm cơ hội cạnh tranh.

Đăng ký đặt báo