
Phân bổ chỉ tiêu xuất khẩu gắn với mức độ tín nhiệm
Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 65/2026/TT-BCT ngày 1/10/2026, quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo. Thông tư gồm 5 chương, 18 điều, tập trung vào cơ chế chỉ định thương nhân đầu mối, tổ chức thực hiện hợp đồng tập trung, chế độ báo cáo và đánh giá mức độ tín nhiệm của thương nhân xuất khẩu gạo.
Theo quy định mới, thương nhân đầu mối thực hiện hợp đồng tập trung được lựa chọn dựa trên các tiêu chí quy định tại Nghị định 365/2026/NĐ-CP. Trường hợp một thị trường có từ hai thương nhân trở lên được chỉ định làm đầu mối nhưng phía nước nhập khẩu chỉ yêu cầu một doanh nghiệp trực tiếp tham gia mỗi đợt giao dịch, cơ chế luân phiên sẽ được áp dụng.
Thương nhân đến lượt phải thông báo khả năng tham gia cho Bộ Công Thương trong vòng một ngày kể từ khi nhận được thông tin từ phía nước nhập khẩu, đồng thời sao gửi Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Nếu không thể tham gia, doanh nghiệp phải nêu rõ lý do để chuyển sang thương nhân kế tiếp. Trường hợp tất cả các đầu mối đều từ chối hoặc không có khả năng thực hiện, Bộ Công Thương sẽ lựa chọn thương nhân khác.
Đáng chú ý, lượng gạo dành cho nhóm thương nhân đầu mối theo cơ chế luân phiên được xác định bằng 20% tổng lượng của hợp đồng tập trung. Tuy nhiên, đây không phải tỷ lệ mà mỗi doanh nghiệp đều được hưởng. Trong 20% này, thương nhân trực tiếp ký kết hợp đồng được thực hiện 2/3, phần 1/3 còn lại chia đều cho các đầu mối không trực tiếp ký kết.
Các thương nhân không trực tiếp ký hợp đồng vẫn phải tham gia xây dựng phương án giao dịch, theo dõi thị trường, chuẩn bị nguồn hàng và phối hợp thực hiện hợp đồng. Qua đó, cơ chế mới gắn quyền được phân bổ lượng gạo với trách nhiệm bảo đảm khả năng thực hiện.
Đối với phần chỉ tiêu thực hiện hợp đồng tập trung, Bộ Công Thương sẽ thông báo để các địa phương rà soát thương nhân có nhu cầu. UBND cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính có trách nhiệm tổng hợp danh sách các thương nhân đáp ứng điều kiện và gửi về Bộ Công Thương.
Trên cơ sở danh sách này, kết hợp với khả năng cân đối nguồn hàng và thông tin về mùa vụ do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cung cấp, Bộ Công Thương quyết định phân bổ chỉ tiêu. Doanh nghiệp không có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo hoặc thuộc trường hợp không được tham gia theo Nghị định 365/2026/NĐ-CP sẽ không được phân bổ.
Một điểm đáng chú ý khác là cơ chế đánh giá mức độ tín nhiệm chưa được áp dụng ngay. Theo Thông tư, nội dung này bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2028. Trước thời điểm đó, chỉ tiêu được phân bổ bằng nhau cho các thương nhân đăng ký và đáp ứng điều kiện.
Khi cơ chế tín nhiệm chính thức vận hành, doanh nghiệp cùng nhóm sẽ nhận mức phân bổ bằng nhau, trong khi khoảng cách giữa các nhóm được xác định theo nguyên tắc giảm dần. Nhóm tín nhiệm cao được phân bổ không quá 50% mức của nhóm rất cao; nhóm trung bình không quá 50% nhóm cao; nhóm thấp không quá 50% nhóm trung bình và nhóm rất thấp không quá 50% nhóm thấp.
Mức độ tín nhiệm được xác định trên nhiều tiêu chí, trong đó có kết quả hoạt động xuất khẩu, chấp hành chế độ báo cáo và dự trữ lưu thông. Riêng kết quả kinh doanh xuất khẩu gạo được chấm theo thang 100 điểm, gồm thành tích xuất khẩu và khả năng phát triển thị trường.
Doanh nghiệp cũng có thể bị trừ điểm nếu báo cáo chậm, thiếu thông tin, không chính xác hoặc không đúng quy định. Sau khi hoàn tất đánh giá, Bộ Công Thương sẽ công bố danh sách thương nhân theo từng mức độ tín nhiệm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.
Thị trường biến động, doanh nghiệp chịu thêm sức ép
Những thay đổi về cơ chế quản lý được đưa ra trong thời điểm xuất khẩu gạo Việt Nam đang đối mặt với nhiều sức ép. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 6,4 triệu tấn gạo, đạt 3,11 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 6,1%, kim ngạch giảm 10,9%, trong khi giá bình quân giảm 5,1%, xuống khoảng 484,8 USD/tấn.

Philippines tiếp tục giữ vị trí thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 40,9% thị phần. Trung Quốc và Ghana lần lượt chiếm 17,4% và 12,7%. Tuy nhiên, diễn biến xuất khẩu giữa các thị trường có sự khác biệt rõ rệt. Giá trị xuất khẩu sang Philippines giảm 16,8%, còn Ghana giảm 1,1%. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc tăng tới 76%. Iraq thậm chí ghi nhận mức tăng 98,9 lần so với cùng kỳ, trở thành điểm sáng nổi bật trong nhóm các thị trường nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam. Ngược lại, xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà giảm 52,8%.
Giá xuất khẩu cũng chịu áp lực giảm. Số liệu của Cục Thống kê cho thấy trong 9 tháng năm 2026, chỉ số giá xuất khẩu nhóm nông sản, thực phẩm giảm 4,06%, riêng giá gạo giảm 6,61%. Bộ Công Thương nhận định thị trường gạo năm nay tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi địa chính trị, giá năng lượng, chi phí logistics, vận tải biển và những thay đổi trong chính sách thương mại, dự trữ lương thực của các quốc gia.
Với mục tiêu xuất khẩu khoảng 7,7 triệu tấn trong cả năm, sau khi đạt 6,4 triệu tấn trong 9 tháng, ngành gạo còn khoảng 1,3 triệu tấn cần thực hiện trong quý IV. Dù vậy, thị trường vẫn có những tín hiệu tích cực từ xu hướng nâng cao chất lượng và phát triển gạo phát thải thấp. Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục được triển khai. Đến tháng 8/2026, diện tích áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình sản xuất lúa bền vững đạt khoảng 420,8 nghìn ha.
Đáng chú ý, 552,4 tấn gạo đầu tiên theo định hướng “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” đã được xuất khẩu sang Nhật Bản, Australia, Singapore và Malaysia. Đây là tín hiệu cho thấy việc nâng chất lượng, giảm phát thải và đáp ứng yêu cầu của các thị trường cao cấp đang trở thành hướng đi quan trọng của ngành gạo.
Thông tư 65/2026/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Các hợp đồng xuất khẩu gạo đã đăng ký và hợp đồng tập trung đã được phân bổ trước thời điểm này tiếp tục được thực hiện, không phải đăng ký hoặc phân bổ lại.
Trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động, cơ chế mới đặt doanh nghiệp trước yêu cầu nâng cao năng lực thực hiện hợp đồng, tuân thủ chế độ báo cáo, bảo đảm nguồn hàng và mở rộng thị trường. Từ năm 2028, khi đánh giá tín nhiệm được áp dụng, kết quả hoạt động và mức độ tuân thủ sẽ ngày càng có vai trò rõ nét hơn trong việc tiếp cận chỉ tiêu xuất khẩu.