
Trả lại nơi ở cho loài cáy
Buổi sáng trên cánh đồng Hoàng Giang, xã Trung Chính, những con mương nhỏ uốn lượn giữa bãi cói xanh mướt, đưa dòng nước từ sông Hoàng len lỏi vào từng khoảnh ruộng. Mặt nước phẳng lặng, chỉ thỉnh thoảng gợn lên bởi một con cáy vừa từ dưới hang bò ra kiếm ăn rồi lại vội vàng lẩn vào đám cói mục. Khung cảnh ấy yên bình đến mức ít ai nghĩ nơi đây từng chỉ là vùng đất trũng bị bỏ hoang, quanh năm ngập nước.
Ông Lê Huy Điệp (SN 1958) chống chiếc cuốc nhỏ đi dọc bờ mương. Gần mười năm gắn bó với khu ruộng rộng 2 ha này, từng bờ đất, từng lối nước đã trở nên quen thuộc như chính khu vườn của gia đình. Với ông, mỗi con mương đều có một lý do để tồn tại, bởi chỉ cần dòng nước ngừng lưu thông hoặc môi trường bị xáo trộn, đàn cáy sẽ lập tức rời đi.
Ít ai biết rằng, khi nghỉ công tác xã vào năm 2016, dự định ban đầu của ông hoàn toàn không liên quan đến con cáy. Ông thuê lại vùng đồng trũng giáp sông Hoàng chỉ để có bãi cỏ nuôi trâu bò. Đất rộng, cỏ tốt, nguồn nước dồi dào, đó là những điều khiến ông quyết định đầu tư.

Nhưng trong những lần lùa trâu ra đồng, ông lại để ý đến một điều khác. Dọc bờ sông Hoàng từ bao đời nay vốn có rất nhiều cáy. Người dân vẫn quen tranh thủ con nước để đi bắt, nhưng càng về sau lượng cáy càng ít, trong khi giá bán ngày một cao. Ông tự hỏi, nếu thay vì chỉ khai thác, người ta tạo ra một môi trường phù hợp để cáy tự tìm đến sinh sống thì sao?
Ý nghĩ ấy cứ lớn dần cho đến năm 2018, khi ông quyết định bán toàn bộ đàn trâu bò. Nhiều người bảo ông liều, bởi chưa ai nghĩ một vùng đồng trũng có thể làm giàu từ con cáy. Còn ông chỉ tin vào điều mình đã quan sát suốt nhiều năm: cáy không biến mất, chúng chỉ rời bỏ những nơi không còn phù hợp để sinh sống.
Không mua giống, cũng không nuôi theo cách thông thường, ông thuê máy múc đào những con mương chạy ngang dọc khắp cánh đồng, nối thẳng với sông Hoàng. Những bờ bao được đắp lại để giữ mực nước ổn định, vừa tạo đường cho cáy từ sông bò vào, vừa hình thành nơi trú ngụ an toàn để chúng đào hang và sinh sản.
Những đầm cói cũ cũng được giữ nguyên. Theo ông Điệp, nhiều người nghĩ cói chỉ để lấy sợi, nhưng với cáy, những gốc cói già, rong rêu và lớp hữu cơ bám quanh thân lại là nguồn thức ăn tự nhiên quý giá. Càng ít tác động, môi trường càng ổn định, cáy càng phát triển.

Ông bảo, cáy là loài rất "khó tính". Chúng chỉ sống ở nơi nguồn nước sạch, dòng chảy thông thoáng và gần như không chịu được sự thay đổi đột ngột của môi trường. Chỉ cần nước ô nhiễm hoặc bị khuấy đảo quá nhiều, cáy sẽ bỏ đi hoặc chết. Vì vậy, điều quan trọng nhất không phải là chăm cáy, mà là chăm cho chính vùng đất nơi cáy sinh sống.
Suốt ba năm đầu, khu ruộng gần như không mang lại nguồn thu đáng kể. Ông vẫn đều đặn nạo vét mương, giữ dòng nước lưu thông và kiên nhẫn chờ đợi. Rồi từng mùa nước lên, số hang cáy dưới chân cói bắt đầu nhiều hơn. Đến khi những vệt đất mới liên tiếp xuất hiện quanh bờ mương, ông biết rằng đàn cáy đã thực sự chọn nơi này làm chỗ sinh sản.
Vụ khai thác đầu tiên đạt khoảng 30 đến 40 kg mỗi sào, vượt xa những gì ông từng kỳ vọng. Không phải thành quả của thức ăn công nghiệp hay kỹ thuật nuôi thâm canh, đó là kết quả của một hệ sinh thái được phục hồi đúng với quy luật tự nhiên.
Giữ con cáy để giữ vùng đồng trũng
Đến nay, sau gần một thập kỷ cải tạo vùng đồng trũng, khu ruộng rộng 2 ha của ông Điệp đã hình thành một vòng tuần hoàn gần như khép kín. Cáy từ sông Hoàng theo dòng nước bò vào sinh sống, đào hang dưới những gốc cói rồi tiếp tục sinh sản. Người chủ khu ruộng không phải lo chuyện thả giống, cũng không mất công cho ăn hay phòng dịch như nhiều mô hình nuôi thủy sản khác. Công việc quen thuộc của ông chỉ là giữ cho những con mương luôn thông nước và hạn chế tối đa mọi tác động đến môi trường tự nhiên.

Theo ông Điệp, cáy sinh sản mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 4 hằng năm. Đó cũng là thời điểm ông tuyệt đối không khai thác, dù biết dưới những bờ cói là lúc cáy xuất hiện dày đặc nhất. Chỉ đến cuối tháng 4, khi đàn cáy đã qua mùa sinh sản, ông mới bắt đầu thu hoạch và kéo dài đến khoảng tháng 6 rồi dừng lại.
"Muốn năm sau còn cáy thì năm nay phải biết giữ cho chúng đẻ. Mình bắt hết thì chẳng mấy chốc cũng hết như ngoài tự nhiên thôi", ông nói.
Việc khai thác cũng không diễn ra ồ ạt. Mỗi ngày, ông chỉ thu bắt một lượng vừa phải theo nhu cầu của thị trường. Có những hôm vào chính vụ, sản lượng đạt gần 40 kg. Với giá bán dao động từ 75.000 đến 80.000 đồng mỗi kilôgam, riêng con cáy mang lại cho gia đình nguồn thu khoảng 120 đến 150 triệu đồng mỗi năm. Diện tích cói trên khu ruộng được ông cho thuê khoán, mỗi năm có thêm khoảng 60 triệu đồng, giúp vùng đất trũng trước kia trở thành nguồn sinh kế ổn định.
Điều khiến ông hài lòng không nằm ở những con số ấy. Sau nhiều năm gắn bó với khu đồng, điều ông nhìn thấy rõ nhất là cáy ngày một xuất hiện nhiều hơn trong khu vực mình cải tạo. Những bờ mương trước đây thưa thớt hang giờ kín những lỗ nhỏ li ti. Mỗi khi nước triều lên xuống, cáy lại nối nhau bò ra kiếm ăn rồi nhanh chóng lẩn vào những bụi cói.
Ông bảo, nếu coi cáy là vật nuôi thì rất khó thành công. Bởi loài này không chịu được môi trường bị can thiệp quá nhiều. Chúng chỉ sống ở nơi có dòng nước sạch, lớp bùn tự nhiên và nguồn thức ăn sẵn có. Vì thế, người làm chỉ có thể tạo điều kiện để cáy sinh trưởng, chứ không thể ép chúng lớn nhanh hay sinh sản theo ý muốn.

Chính cách nghĩ ấy cũng khiến ông không chạy theo sản lượng. Ông chưa bao giờ có ý định san lấp bãi cói để mở rộng diện tích hay sử dụng các biện pháp tác động mạnh nhằm tăng mật độ cáy. Với ông, nếu phá vỡ môi trường tự nhiên thì cũng đồng nghĩa đánh mất giá trị lớn nhất của mô hình.
Những năm gần đây, sức khỏe không còn như trước, ông dành phần lớn thời gian chăm sóc hệ thống mương nước và quan sát sự thay đổi của khu đồng. Mỗi mùa cáy đến, thương lái lại tìm về tận nơi thu mua. Có người còn đặt trước vì cáy tự nhiên ngày càng hiếm, trong khi cáy ở khu ruộng của ông luôn chắc thịt, đồng đều và giữ được hương vị đặc trưng.
Không dừng lại ở việc bán cáy tươi, ông Điệp đang thử nghiệm một hướng đi mới. Sau nhiều mẻ ủ thử được người quen đánh giá cao, ông dự định đầu tư cơ sở chế biến mắm cáy, đồng thời nghiên cứu sản phẩm cáy cấp đông để kéo dài thời gian tiêu thụ. Xa hơn, ông mong muốn hoàn thiện quy trình sản xuất, đăng ký sản phẩm OCOP, để con cáy quê không chỉ là món ăn dân dã mà có thể trở thành đặc sản mang thương hiệu của địa phương.
Rời cánh đồng Hoàng Giang khi nắng vẫn còn trải trên những bãi cói, ông Điệp lại chậm rãi đi dọc các con mương để kiểm tra dòng nước. Thi thoảng, ông dừng chân nhìn những miệng hang nhỏ chi chít dưới chân cói rồi mỉm cười, bởi đó là dấu hiệu của một mùa cáy mới đang lớn lên.
Vùng đồng trũng ấy vẫn vậy, vẫn là dòng nước từ sông Hoàng, những bãi cói và lớp phù sa bồi đắp qua từng mùa lũ. Chỉ khác rằng, thay vì chỉ là nơi người dân tìm đến mỗi mùa bắt cáy, nơi đây đã trở thành minh chứng cho một cách làm nông nghiệp thuận theo tự nhiên: không tìm cách thay đổi tập tính của loài vật, mà kiên nhẫn tạo dựng môi trường để chúng tự tìm đến, sinh trưởng và sinh sôi. Từ sự bền bỉ của một người nông dân, vùng đất từng chỉ được biết đến như bãi đồng ngập nước đã mang một giá trị mới.