Việt Nam dành nguồn lực ngân sách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh

Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, đồng thời huy động thêm nguồn lực xã hội và tài chính xanh để thúc đẩy chuyển đổi xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu.
muc-tieu-phat-trien-xanh-1785729561.jpg
Ưu tiên ngân sách và tài chính xanh để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường.

Môi trường trở thành trụ cột của mô hình phát triển mới

Bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ không còn là nhiệm vụ riêng của ngành tài nguyên và môi trường mà được xác định là một trong những nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Đây là nội dung trọng tâm được Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trình bày tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, liên quan đến Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, nhiệm vụ bảo vệ môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi gắn trực tiếp với chất lượng sống của người dân, sinh kế lâu dài và năng lực phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ tư duy xử lý ô nhiễm sang chủ động phòng ngừa rủi ro, quản trị bằng dữ liệu, khoa học công nghệ và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn.

Theo định hướng mới, quy hoạch phát triển cần được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các giới hạn sinh thái, đồng thời kết hợp chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo với quản trị môi trường hiện đại. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng sẽ chủ động tham gia sâu hơn vào các sáng kiến, cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu nhằm nâng cao vị thế quốc gia trong giải quyết các vấn đề môi trường và khí hậu.

Kết luận số 75-KL/TW đồng thời xác lập nhiều mục tiêu định lượng cho giai đoạn 2026-2030. Đáng chú ý, kinh tế xanh được kỳ vọng đóng góp khoảng 10% GDP; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%; lượng phát thải khí nhà kính giảm ít nhất 9% vào năm 2030.

Song song với các mục tiêu phát triển kinh tế xanh, nhiều chỉ tiêu về chất lượng môi trường cũng được lượng hóa cụ thể. Theo đó, tối thiểu 80% số ngày trong năm tại các đô thị đặc biệt phải có chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình. Tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% tại khu vực đô thị và 85% tại khu vực nông thôn. Ngoài ra, toàn bộ nguồn nước thải và khí thải quy mô lớn sẽ được giám sát tự động, trong khi tất cả các cụm công nghiệp phải có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới xây dựng môi trường sống trong lành, hệ sinh thái phát triển hài hòa với thiên nhiên, hình thành hệ thống quản trị môi trường hiện đại và nâng cao khả năng thích ứng trước các tác động của biến đổi khí hậu.

Bảo đảm tối thiểu 2% ngân sách, huy động thêm tài chính xanh

Một trong những điểm nhấn đáng chú ý của Kết luận số 75-KL/TW là yêu cầu bảo đảm nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường. Theo đó, ngân sách nhà nước sẽ bố trí tối thiểu 2% tổng chi hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, qua đó giữ vai trò dẫn dắt trong triển khai các chương trình, dự án trọng điểm. Không chỉ dựa vào nguồn vốn ngân sách, Trung ương cũng định hướng mở rộng khả năng huy động nguồn lực từ xã hội, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh và vốn quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh trong giai đoạn tới.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Trung ương đã xác định 9 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trong đó, trước hết là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của toàn xã hội, thúc đẩy lối sống xanh, tiêu dùng bền vững và hình thành văn hóa bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Cùng với đó là tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; đồng thời siết chặt kỷ cương trong quản lý, tăng cường phân cấp gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả.

Một nhóm giải pháp quan trọng khác là tập trung xử lý các điểm nóng về ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại các đô thị lớn, lưu vực sông, hồ, kênh mương, làng nghề, cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản cũng như những nơi còn tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật.

Bên cạnh đó, Trung ương xác định cần đẩy mạnh bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, quản lý phát thải khí nhà kính cũng sẽ trở thành định hướng xuyên suốt trong quá trình phát triển.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được xem là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả quan trắc môi trường, xử lý chất thải, giảm phát thải khí nhà kính cũng như phát triển các công nghệ thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng carbon.

Song song với các giải pháp trong nước, Việt Nam sẽ mở rộng hợp tác quốc tế, tích cực tham gia các sáng kiến toàn cầu về môi trường và khí hậu, tăng cường ngoại giao môi trường, ngoại giao khí hậu và hợp tác xử lý các vấn đề môi trường xuyên biên giới.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết, Chính phủ đang xây dựng chương trình hành động nhằm cụ thể hóa Kết luận số 75-KL/TW, đồng thời lồng ghép đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng bộ, ngành và địa phương, tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Đăng ký đặt báo