Từ những dòng nước chưa ổn định đến mục tiêu chủ động nguồn nước
Tại các xã khó khăn, đặc biệt khó khăn, nông nghiệp vẫn là sinh kế quan trọng của người dân. Thế nhưng, địa hình chia cắt, nhiều công trình thủy lợi quy mô nhỏ đã xuống cấp, trong khi hệ thống kênh mương chưa đồng bộ khiến việc chủ động nguồn nước cho sản xuất còn nhiều hạn chế. Đây cũng là một trong những điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu muốn nâng cao giá trị sản xuất và cải thiện đời sống ở khu vực này.

Thực hiện Đề án số 21-ĐA/TU ngày 11/12/2025 của Tỉnh ủy Thái Nguyên về “Phát triển kết cấu hạ tầng các xã khó khăn và đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026 - 2030”, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêu chủ động đạt từ 80% trở lên; tỷ lệ kênh mương được kiên cố hóa đạt tối thiểu 70%. Những chỉ tiêu này không chỉ nhằm giải quyết bài toán nước trước mắt mà còn hướng tới nâng cao khả năng chống chịu của sản xuất nông nghiệp trước những diễn biến bất thường của thời tiết, tạo điều kiện để người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị trên cùng đơn vị diện tích.
Để đi đến mục tiêu đó, tỉnh xác định tập trung nguồn lực kiên cố hóa hơn 600 km kênh mương, đồng thời nâng cấp các công trình thủy lợi vừa và nhỏ. Cùng với xây dựng mới, việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng công trình cũng được đặt trong quá trình đầu tư nhằm nâng cao độ bền và hiệu quả khai thác.
Tính đến nay tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêu chủ động đạt khoảng 61%, trong khi tỷ lệ kênh mương được kiên cố hóa đạt 45%. Khoảng cách với mục tiêu đến năm 2030 vẫn còn khá lớn, nhưng những kết quả bước đầu cho thấy hạ tầng thủy lợi tại các xã khó khăn đang từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ và bền vững hơn.
Trong năm 2026, sáu công trình hồ chứa gồm Quan Làng, Khuổi Tráng, Phai Khít, Nà Bang, Khuổi Lình và Khuổi Thiêu tại các xã khó khăn, chủ yếu thuộc khu vực phía Bắc, đang được tổ chức thi công, dự kiến đạt khoảng 40% khối lượng theo hợp đồng. Đây là những công trình có vai trò điều tiết, tích trữ và cung cấp nước phục vụ sản xuất, qua đó tăng khả năng chủ động nguồn nước cho người dân.
Cùng với đó, 17 công trình thủy lợi được cải tạo, sửa chữa, nâng cấp đang được các đơn vị, địa phương triển khai theo kế hoạch. Một số công trình đã được phê duyệt và tổ chức thi công, khối lượng thực hiện đạt khoảng 85%, dự kiến hoàn thành trong năm 2026. Khoảng 30 km kênh mương cũng đang được sửa chữa, nâng cấp, các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành trong năm nay.
Giá trị của những tuyến kênh được kiên cố hóa không chỉ nằm ở việc giảm thất thoát nước. Khi nước từ các công trình đầu mối được đưa đến đồng ruộng đầy đủ và ổn định hơn, người dân có thêm điều kiện chủ động lịch thời vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị sản xuất. Trong điều kiện thời tiết ngày càng khó dự đoán, một hệ thống thủy lợi vận hành ổn định cũng đồng nghĩa với việc sản xuất có thêm một lớp “đệm” để giảm bớt rủi ro.
Nước sạch không chỉ là một công trình, mà là chất lượng sống
Nếu thủy lợi gắn trực tiếp với sản xuất thì nước sạch lại tác động thẳng vào đời sống hằng ngày của người dân. Bởi vậy, song song với đầu tư thủy lợi, tỉnh Thái Nguyên đang ưu tiên nguồn lực cho các công trình cấp nước sinh hoạt tại những xã khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Hiện tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn tại các địa bàn thực hiện Đề án khoảng 60%. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ này lên 80%; riêng trong năm 2026, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn lên 63%.
Để cụ thể hóa mục tiêu, UBND tỉnh đã phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án xây mới, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại Quyết định số 2360/QĐ-UBND ngày 24/7/2026. Theo đó, tại các xã thực hiện Đề án số 21-ĐA/TU, dự kiến đầu tư xây mới công trình cấp nước tại các xã Cường Lợi, Nghiên Loan, Nam Cường và Trần Phú, với tổng mức đầu tư 24,2 tỷ đồng.
Không chỉ xây mới, tỉnh cũng dành nguồn lực nâng cấp, cải tạo, mở rộng các công trình cấp nước tại Yên Thịnh, Thượng Minh, Quảng Bạch, Đồng Phúc, Yên Phong, Phủ Thông, Cẩm Giàng, Vĩnh Thông, Côn Minh, Thanh Mai và Yên Bình, với tổng mức đầu tư 30,6 tỷ đồng.
Các dự án này được kỳ vọng góp phần khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt, nhất là trong mùa khô, đồng thời nâng cao chất lượng, độ an toàn và tính ổn định của nguồn nước cung cấp cho người dân. Việc mở rộng hệ thống cấp nước tập trung cũng giúp người dân tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ thiết yếu, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống.
Điểm đáng chú ý là bài toán nước sạch đang được tiếp cận không chỉ từ góc độ “có công trình” mà còn từ khả năng vận hành công trình sau đầu tư. Các cơ quan, đơn vị và địa phương đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, thủ tục chuẩn bị đầu tư theo quy định; đồng thời rà soát thực trạng, nhu cầu sử dụng và khả năng khai thác nguồn nước ở từng địa bàn để lựa chọn phương án phù hợp.
Cách làm này có ý nghĩa quan trọng với những địa bàn khó khăn, nơi điều kiện tự nhiên và dân cư có nhiều đặc thù. Một công trình cấp nước chỉ thực sự phát huy giá trị khi có nguồn nước phù hợp, được vận hành ổn định và có khả năng đáp ứng nhu cầu lâu dài. Vì thế, quản lý, vận hành, duy tu và bảo dưỡng sau đầu tư được tỉnh chú trọng nhằm nâng cao tuổi thọ công trình, hạn chế nguy cơ xuống cấp hoặc đầu tư xong nhưng hiệu quả khai thác không đạt như kỳ vọng.
Đầu tư hạ tầng nước để mở đường cho sinh kế bền vững
Nhìn rộng hơn, những công trình thủy lợi và cấp nước sạch đang được triển khai tại các xã khó khăn, đặc biệt khó khăn không chỉ nhằm giải quyết những nhu cầu thiết yếu trước mắt. Phía sau mỗi hồ chứa, tuyến kênh hay công trình cấp nước là mục tiêu lớn hơn: tạo nền tảng hạ tầng để người dân có thể phát triển kinh tế, cải thiện đời sống và yên tâm gắn bó với địa phương.

Khi nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm, người dân có điều kiện chủ động hơn trong sản xuất nông nghiệp. Khi nước sinh hoạt được cung cấp ổn định, chất lượng cuộc sống cũng được cải thiện. Hai yếu tố này bổ trợ cho nhau và cùng tác động đến khả năng phát triển lâu dài của các vùng còn khó khăn.
Đề án số 21-ĐA/TU vì thế không chỉ đặt ra những con số về tỷ lệ tưới tiêu, kiên cố hóa kênh mương hay hộ dân được sử dụng nước sạch. Đằng sau các chỉ tiêu ấy là yêu cầu thu hẹp khoảng cách về hạ tầng giữa các vùng, tạo điều kiện để người dân tiếp cận tốt hơn với những dịch vụ thiết yếu và từng bước hình thành nền tảng phát triển đồng đều, bền vững trên địa bàn tỉnh.
Với vùng khó khăn, đầu tư hạ tầng nước có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể: giữ được nước trong hồ, đưa nước đến được chân ruộng, bảo đảm một nguồn nước sạch ổn định cho mỗi gia đình. Nhưng chính từ những điều tưởng như căn bản ấy, một nền tảng phát triển mới có thể được hình thành.