Việt Nam cần thêm những trụ cột tăng trưởng mới để đạt mục tiêu GDP trên 10%

Quốc hội đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, trong đó 30/34 địa phương được giao chỉ tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, theo PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, để hiện thực hóa mục tiêu đầy tham vọng này, Việt Nam không thể chỉ dựa vào xuất khẩu, đầu tư công mà cần củng cố khả năng chống chịu trước biến động quốc tế, đồng thời chuyển các động lực tăng trưởng mới thành năng lực sản xuất thực chất.
muc-tieu-gdp-tren-10-1794053491.png
Khát vọng tăng trưởng 10% và yêu cầu nâng sức chống chịu của nền kinh tế.

30 địa phương phải đạt tăng trưởng hai con số

Sáng 7/11, tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, với 467/469 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, tương đương 93,40% tổng số đại biểu Quốc hội.

Nghị quyết xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, đi cùng yêu cầu duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Đây không chỉ là mục tiêu về tốc độ tăng trưởng mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển, cải thiện năng suất và gia tăng khả năng tự chủ của nền kinh tế trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều bất định.

Trước khi Quốc hội biểu quyết, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo nghị quyết. Theo đó, Chính phủ xác định 45 chỉ tiêu chủ yếu cùng 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, được xây dựng trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội và bám sát định hướng tại Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

ndo_br_chi-9928.jpg
Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu trước khi các đại biểu Quốc hội biểu quyết.

Một trong những điểm đáng chú ý của kế hoạch năm 2027 là việc Quốc hội giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương, thể hiện yêu cầu phân bổ trách nhiệm phát triển trên phạm vi cả nước. Trong tổng số 34 tỉnh, thành phố, có 30 địa phương được giao mức tăng trưởng từ 10% trở lên.

Đặc biệt, toàn bộ 9 thành phố trực thuộc Trung ương đều phải phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng hai con số. Hải Phòng dẫn đầu cả nước với chỉ tiêu 13%, tiếp đến là Quảng Ninh với 12%. Trong khi đó, hai trung tâm kinh tế lớn nhất là Hà Nội và TP.HCM lần lượt được giao mục tiêu tăng trưởng 11,1% và 10,4%. Các thành phố trực thuộc Trung ương còn lại cũng được đặt ra những mức tăng trưởng tương đối cao, gồm Đà Nẵng và Đồng Nai cùng đạt 11%, Cần Thơ 10,6%, Bắc Ninh 10,5% và Huế 10%.

hai-phong-1794053691.jpg
9 thành phố trực thuộc Trung ương được giao mục tiêu tăng trưởng hai con số, trong đó Hải Phòng dẫn đầu với 13%.

Ở nhóm địa phương khác, Phú Thọ, Thanh Hóa và Lâm Đồng cùng được giao chỉ tiêu tăng trưởng 11%. Phần lớn các tỉnh còn lại cũng phải hướng tới mức tăng trưởng từ 10% trở lên. Tuy nhiên, vẫn có 4 địa phương được giao mục tiêu dưới ngưỡng này. Sơn La ở mức 9,3%; Quảng Trị và Quảng Ngãi cùng đạt 9%; Đồng Tháp có chỉ tiêu thấp nhất, với 8,7%.

Việc đặt ra các chỉ tiêu riêng cho từng địa phương cho thấy yêu cầu tăng trưởng không chỉ tập trung vào những trung tâm kinh tế lớn mà cần được lan tỏa trên diện rộng. Cùng với đó, Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các khu vực kinh tế.

Đầu tư vào hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, tăng cường liên kết vùng, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng và khai thác những không gian phát triển mới cũng được xác định là những nhiệm vụ quan trọng. Đây là cơ sở để mở rộng dư địa phát triển, cải thiện kết nối giữa các địa phương và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Theo báo cáo của Chính phủ, trong 9 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 9,01%, thuộc nhóm mức tăng cao trong nhiều năm trở lại đây. Kết quả này không chỉ phản ánh sự cải thiện về quy mô sản xuất mà còn cho thấy những chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế, năng lực sản xuất cũng như khả năng huy động, sử dụng nguồn lực.

Trên nền tảng đó, Chính phủ định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ những điểm nghẽn trong huy động và phân bổ nguồn lực, đồng thời duy trì các động lực tăng trưởng hiện hữu và phát triển những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động sẽ là trọng tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng.

Để hỗ trợ mục tiêu này, chính sách tài khóa và tiền tệ được yêu cầu phối hợp linh hoạt. Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh thuế, phí và lệ phí đối với xăng dầu theo diễn biến thị trường, đồng thời cải cách hệ thống thuế theo hướng minh bạch, mở rộng cơ sở thu và tạo nguồn thu bền vững. Đối với chính sách tiền tệ, việc điều hành lãi suất, tỷ giá cần bám sát thị trường; tín dụng được kiểm soát hợp lý, ưu tiên sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn hệ thống.

Trong bối cảnh giá năng lượng, nguyên vật liệu, chi phí vận tải và chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn có thể biến động khó lường, việc kiểm soát giá cả, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu và giữ vững các cân đối lớn được xem là điều kiện quan trọng để duy trì đà tăng trưởng. Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương nhanh chóng cụ thể hóa nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm thực hiện, hướng tới đưa nghị quyết vào cuộc sống ngay từ đầu năm.

Không thể chỉ dựa vào động lực tăng trưởng truyền thống

Đánh giá về triển vọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng thách thức lớn nhất của Việt Nam không chỉ nằm ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn ở khả năng hình thành những trụ cột phát triển mới.

bui-quang-tuan-1794053844.webp
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam.

Theo ông, quy mô nền kinh tế càng mở rộng thì việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao càng trở nên khó khăn. Nếu tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào những động lực quen thuộc như xuất khẩu, đầu tư công mà không tạo dựng được những nguồn lực tăng trưởng mới, mục tiêu hai con số sẽ khó có thể duy trì trong dài hạn.

Bên cạnh thách thức nội tại, mức độ hội nhập sâu rộng cũng khiến kinh tế Việt Nam nhạy cảm hơn trước những biến động từ bên ngoài. PGS.TS. Bùi Quang Tuấn đặc biệt lưu ý hai xu hướng có thể tác động đáng kể đến triển vọng tăng trưởng trong thời gian tới, gồm rủi ro trên thị trường công nghệ AI và những bất ổn liên quan đến nguồn cung, giá năng lượng.

Đối với lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, ông cho biết đang xuất hiện những lo ngại về khả năng hình thành bong bóng đầu tư khi lượng vốn đổ vào công nghệ này tăng nhanh, trong khi doanh thu trực tiếp chưa tương xứng. Theo những số liệu ông đề cập, 5 doanh nghiệp công nghệ hàng đầu đã đầu tư khoảng 800 tỷ USD vào AI, nhưng doanh thu trực tiếp mới đạt khoảng 150 - 200 tỷ USD.

Sự chênh lệch giữa quy mô vốn đầu tư và doanh thu có thể tạo ra những rủi ro nếu kỳ vọng của thị trường không được đáp ứng. Theo vị chuyên gia, không nên mặc định rằng đầu tư vào công nghệ luôn đồng nghĩa với hiệu quả và an toàn, bởi thế giới từng trải qua khủng hoảng trong lĩnh vực công nghệ thông tin vào đầu những năm 2000.

Với Việt Nam, nguy cơ này cần được quan tâm bởi xuất khẩu điện tử đang là một trong những lĩnh vực có đóng góp đáng kể cho tăng trưởng. Nếu thị trường AI xuất hiện cú sốc hoặc bước vào giai đoạn suy giảm, nhu cầu đối với các sản phẩm điện tử có liên quan cũng có thể bị ảnh hưởng, từ đó tác động đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu trong nước.

Một rủi ro khác đến từ thị trường năng lượng. Giá xăng dầu có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, vận tải và hoạt động của nhiều ngành kinh tế. Trong khi đó, những bất ổn địa chính trị tại Nga, Trung Đông và các diễn biến liên quan đến lực lượng Houthi tiếp tục khiến triển vọng nguồn cung và giá dầu khó dự báo.

Trước những yếu tố này, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn cho rằng Việt Nam cần xây dựng các phương án ứng phó từ sớm, thay vì chỉ điều hành theo kịch bản thuận lợi. Đối với an ninh năng lượng, cần chuẩn bị nguồn cung và lượng dự trữ phù hợp để hạn chế tác động khi xảy ra gián đoạn. Trong lĩnh vực xuất khẩu, nhất là nhóm hàng điện tử có liên quan đến chuỗi cung ứng AI, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần tính đến những phương án thay thế khi nhu cầu thế giới suy yếu.

kinh-te-1794053781.jpg
Việt Nam cần xây dựng các phương án ứng phó từ sớm, thay vì chỉ điều hành theo kịch bản thuận lợi.

Các kịch bản về dòng vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài và ổn định kinh tế vĩ mô cũng cần được tính toán đồng bộ. Bởi theo ông, tăng trưởng cao sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu đi kèm tình trạng mất ổn định về giá cả, nguồn cung hoặc các cân đối lớn của nền kinh tế.

Về lâu dài, chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần được thực hiện theo lộ trình thay vì kỳ vọng có thể thay thế ngay những động lực truyền thống bằng các lĩnh vực công nghệ mới. Quá trình này liên quan đến đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và điều chỉnh hệ thống giáo dục, đào tạo, do đó cần thời gian và nguồn lực đầu tư tương xứng.

PGS.TS. Bùi Quang Tuấn nhận định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn là những động lực có tiềm năng lớn, nhưng mức độ khai thác hiện nay chưa tương xứng. Một trong những hạn chế là nguồn lực đầu tư chưa được chuyển hóa hiệu quả thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị đóng góp trực tiếp cho GDP. Ngay cả một số khoản ngân sách đã bố trí cũng chưa được giải ngân đầy đủ, làm chậm quá trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển.

Ngoài công nghệ, những lĩnh vực như du lịch, du lịch gắn với di sản và công nghiệp văn hóa cũng cần được xem xét như những nguồn lực có thể mở rộng không gian tăng trưởng. Theo ông, Việt Nam cơ bản đã nhận diện được các lĩnh vực có tiềm năng, vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện và tạo cơ chế để doanh nghiệp tham gia sâu hơn.

Vị chuyên gia nhấn mạnh: “Thách thức sắp tới chính là thách thức trong tổ chức thực thi”. Theo đó, doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đặc biệt là những doanh nghiệp đầu đàn có tiềm lực tài chính, công nghệ và khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị.

Việc hình thành các doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn, có năng lực kết nối và dẫn dắt những doanh nghiệp khác tham gia chuỗi cung ứng sẽ góp phần nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Đây cũng là điều kiện để Việt Nam từng bước cải thiện vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì chỉ tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.

Như vậy, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 không chỉ đặt ra áp lực về tiến độ và kết quả đối với từng địa phương, mà còn đòi hỏi sự chuyển biến thực chất trong cách thức vận hành nền kinh tế. Việc duy trì ổn định vĩ mô, chủ động trước các cú sốc bên ngoài và khơi thông nguồn lực cho những động lực mới sẽ quyết định khả năng biến mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng thành kết quả bền vững.

Đăng ký đặt báo