
Nhầm từ cái tên...
Giữa triền đồi dưới chân núi Báo, hàng nghìn bầu trồng màu đen xếp thành từng dãy dưới tán cây. Xen giữa những luống sâm xanh tốt, vài công nhân vẫn cặm cụi phối trộn giá thể, đóng bầu cho vụ trồng mới. Mọi công đoạn đều làm thủ công nhằm tạo môi trường sinh trưởng gần với điều kiện tự nhiên của loài sâm bản địa.
Đang kiểm tra những cây sâm vừa ra hoa, anh Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc HTX Sâm Báo Hoa Vàng, dừng lại trước một bông hoa màu đỏ rồi nói: "Nhiều người nhìn bông hoa này sẽ bảo đây là Sâm Báo hoa đỏ. Nhưng thực ra, Sâm Báo nguyên gốc chỉ có hoa màu vàng." Theo anh, đây cũng là điều anh phải giải thích gần như mỗi ngày với khách tham quan. "Từ trước đến nay, Sâm Báo chỉ có một loại duy nhất. Loại hoa đỏ mà nhiều người vẫn gọi là Sâm Báo thực chất là sâm bố chính."
Theo anh Hiền, nhiều năm qua, cái tên Sâm Báo đã bị dùng để gọi chung cả sâm bố chính. Không ít người vì thế mặc nhiên cho rằng Sâm Báo có hai loại, một loại hoa vàng, một loại hoa đỏ. Điều anh mong muốn không phải phủ nhận giá trị của sâm bố chính, mà là để mỗi loài cây được gọi đúng tên của mình. "Sâm Báo là Sâm Báo, còn sâm bố chính là sâm bố chính. Chúng tôi không phủ nhận giá trị của sâm bố chính, nhưng cũng không thể để giống sâm bản địa của núi Báo bị lẫn vào một loài khác."

Dù sinh ra ở xã Vĩnh Lộc, giáp Biện Thượng, anh Hiền lại dành nhiều năm tìm hiểu về loài sâm của vùng đất này. Anh gặp các bậc cao niên, đối chiếu đặc điểm thực vật và nguồn giống còn lưu giữ trong dân. Càng tìm hiểu, anh càng tin rằng Sâm Báo nguyên gốc chỉ có một giống mang hoa màu vàng.
Theo anh, sự nhầm lẫn bắt đầu từ khoảng năm 2018, khi sâm bố chính được đưa từ Quảng Bình về trồng tại địa phương. Do hình thái khá tương đồng nên nhiều người gọi luôn sâm bố chính là Sâm Báo. Trong quá trình chăm sóc, anh cũng ghi nhận một số cây Sâm Báo xuất hiện hoa đỏ. Theo quan sát của anh, hiện tượng này có thể liên quan đến quá trình lai chéo với sâm bố chính được trồng ở khu vực lân cận.
Nói rồi, anh cúi xuống ngắt một chiếc lá đặt cạnh lá sâm bố chính. "Lá Sâm Báo có dạng hình mác, còn lá sâm bố chính xẻ thùy. Củ Sâm Báo màu vàng nhạt như ngà voi, trong khi củ sâm bố chính sẫm màu hơn." Với người ngoài nghề, những khác biệt ấy rất khó nhận ra, nhưng với người trồng sâm, đó là dấu hiệu để nhận diện đúng giống sâm bản địa.

Không chỉ khác nhau về hình thái, hai loài sâm còn khác cả đặc tính sinh trưởng. Nếu sâm bố chính khá khỏe, ít sâu bệnh thì Sâm Báo lại rất dễ nhiễm nấm, thối cổ củ nên phải trồng trong bầu giá thể đặt dưới tán cây để kiểm soát độ ẩm và chăm sóc sát sao. Đổi lại, Sâm Báo hiện có giá khoảng 1,2 triệu đồng/kg củ tươi, cao hơn đáng kể so với sâm bố chính.
Nhìn dọc những hàng bầu sâm phủ kín sườn đồi, anh Hiền chậm rãi nói: "Điều tôi sợ nhất không phải trồng khó hay bán khó. Tôi chỉ sợ một ngày nào đó, người ta không còn biết đâu mới là Sâm Báo."
Có lẽ cũng từ nỗi trăn trở ấy mà hành trình khôi phục giống sâm bản địa dưới chân núi Báo bắt đầu không phải bằng việc mở rộng diện tích, mà bằng một việc giản dị hơn: trả lại đúng tên cho loài cây đã gắn bó với vùng đất này qua nhiều thế hệ.
Dấu tích dưới chân núi Báo
Núi Báo không cao, cũng không phải ngọn núi nổi tiếng nhất xứ Thanh. Thế nhưng với người dân Biện Thượng, nơi đây từ lâu đã là một phần ký ức của làng. Dưới những tán cây rừng, trên các triền đất ẩm, từng có một loài sâm mọc tự nhiên. Người già trong vùng kể rằng mỗi khi trong nhà có người đau nhức hay mệt mỏi sau những ngày lao động nặng, họ lại lên núi đào vài củ mang về ngâm rượu hoặc sắc nước uống. Khi ấy, Sâm Báo chưa phải là hàng hóa hay sản phẩm mang thương hiệu. Nó đơn giản chỉ là vị thuốc mà núi rừng ban tặng.

Cùng với loài sâm ấy là câu chuyện được truyền qua nhiều thế hệ. Theo lời kể của các bậc cao niên, năm 1397, khi Hồ Quý Ly cho xây dựng Thành Nhà Hồ, những người dân phu quê Biện Thượng vẫn làm việc bền bỉ nhờ dùng nước nấu từ củ sâm trên núi Báo. Từ đó, Sâm Báo được truyền tụng là "sâm tiến vua". Câu chuyện ấy theo thời gian xuất hiện trong nhiều bài viết, lời giới thiệu sản phẩm và dần được nhiều người xem như một sự thật.
Thế nhưng, những người đang khôi phục Sâm Báo lại chọn cách nhìn thận trọng hơn.
"Tôi cũng nghe câu chuyện ấy từ nhỏ", anh Nguyễn Văn Hiền chia sẻ. "Nhưng sau khi tìm gặp các cụ cao niên và đọc thêm tài liệu, tôi thấy đến nay vẫn chưa có tư liệu lịch sử chính thống nào đủ cơ sở khẳng định Hồ Quý Ly từng sử dụng Sâm Báo khi xây Thành Nhà Hồ."

Theo anh Hiền, trước đây một số hộ trồng sâm từng sử dụng câu chuyện này để giới thiệu sản phẩm, rồi nhiều người tiếp tục dẫn lại khiến thông tin lan truyền rộng rãi. "Nếu hỏi đó có phải sự thật lịch sử hay không thì hiện chúng tôi chưa có căn cứ để khẳng định. Vì vậy, chúng tôi không muốn xây dựng thương hiệu trên điều chưa được kiểm chứng."
Sự thẳng thắn ấy khiến chúng tôi khá bất ngờ. Trong khi nhiều sản phẩm địa phương cố gắn với những huyền tích để tăng giá trị thương mại, những người làm Sâm Báo lại chấp nhận gác sang một bên câu chuyện hấp dẫn nhất nếu chưa có cơ sở xác thực. Điều họ muốn giữ không phải là một truyền thuyết, mà là chính giống sâm bản địa của núi Báo.
Theo anh Hiền, điều có thể khẳng định là trước khi được người dân đưa về trồng, Sâm Báo từng mọc tự nhiên trên núi Báo. Nhiều người cao tuổi ở Biện Thượng vẫn còn nhớ những lần theo cha mẹ lên rừng tìm củ sâm mang về làm thuốc hoặc bán cho các hiệu thuốc đông y. Nhưng với HTX, ký ức thôi vẫn chưa đủ. Muốn trả lại đúng tên cho Sâm Báo, mọi khẳng định cuối cùng phải được chứng minh bằng khoa học.
Đó cũng là lý do HTX Sâm Báo Hoa Vàng phối hợp với Viện Hóa học Công nghệ Việt Nam nghiên cứu giống sâm bản địa. Mới đây, các chuyên gia của Viện đã trực tiếp khảo sát vùng trồng, lấy mẫu Sâm Báo và sâm bố chính để triết tách, phân tích thành phần đặc trưng, đồng thời phục vụ xây dựng hồ sơ chỉ dẫn địa lý.
Theo anh Hiền, mục tiêu của việc nghiên cứu không phải để chứng minh loài sâm nào quý hơn, mà nhằm xác lập cơ sở khoa học giúp nhận diện đúng giống sâm bản địa của núi Báo, làm nền tảng cho việc bảo hộ tên gọi.
Những nỗ lực ấy đang từng bước được hoàn thiện bằng cơ sở pháp lý. Ngày 7/1/2026, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND, cho phép UBND xã Biện Thượng sử dụng địa danh "Báo" để đăng ký và quản lý chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm Sâm trên vùng quy hoạch khoảng 68 ha. Với người dân nơi đây, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ thương hiệu, mà còn là sự khẳng định rằng cái tên "Sâm Báo" phải thuộc về đúng vùng đất đã sinh ra nó.
Nhìn những hàng bầu sâm lặng lẽ dưới tán cây, anh Hiền nói: "Tôi không mong người ta nhớ đến Sâm Báo vì một truyền thuyết. Tôi chỉ mong khi nhắc đến Sâm Báo, người ta biết đó là loài sâm bản địa của núi Báo, được nhận diện bằng những giá trị có thể kiểm chứng."
Có lẽ đó cũng là điều những người làm Sâm Báo đang theo đuổi. Họ không đi tìm một huyền tích để làm nên giá trị của loài sâm này. Điều họ muốn là để nhiều năm sau, khi nhắc đến Sâm Báo, cái tên ấy vẫn thuộc về đúng vùng đất đã sinh ra nó.