Thúc đẩy du lịch có trách nhiệm, tăng nguồn lực bảo vệ loài hoang dã

Dự án WTP với nguồn tài trợ 7,15 triệu USD từ Quỹ Môi trường toàn cầu sẽ thử nghiệm các mô hình du lịch dựa vào thiên nhiên, qua đó tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn, sinh kế cộng đồng và bảo vệ các loài hoang dã tại Việt Nam.
bao-ve-loai-hoang-da-1788264174.jpg
Việt Nam triển khai dự án 7,15 triệu USD gắn bảo tồn với phát triển du lịch.

Đưa giá trị thiên nhiên trở lại phục vụ bảo tồn

Ngày 27/8/2026 tại Hà Nội, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam tổ chức khởi động Dự án “Thúc đẩy bảo tồn loài hoang dã và du lịch dựa vào thiên nhiên có trách nhiệm vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam” (WTP).

Dự án được Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua UNDP tại Việt Nam với tổng kinh phí 7,15 triệu USD, triển khai trong giai đoạn 2026-2030. Điểm đáng chú ý của dự án là định hướng kết hợp giữa bảo tồn đa dạng sinh học với phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên, thay vì xem hai mục tiêu này là những lĩnh vực tách biệt.

Việt Nam được đánh giá là một trong 16 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới. Hệ thống các hệ sinh thái phong phú cùng hơn 62.600 loài động vật, thực vật, trong đó có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm, tạo nên nguồn tài nguyên có giá trị lớn đối với công tác bảo tồn cũng như phát triển các sản phẩm du lịch gắn với thiên nhiên.

du-an-bao-ve-dong-vat-hoang-da-1788264301.jpeg
Các đại biểu tham gia dự án “Thúc đẩy bảo tồn loài hoang dã và du lịch dựa vào thiên nhiên có trách nhiệm vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam”. Ảnh: UNDP tại Việt Nam

Tuy nhiên, cùng với quá trình gia tăng dân số và phát triển kinh tế, nhiều hệ sinh thái đang chịu sức ép ngày càng lớn. Theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2024, gần 1.400 loài đang bị đe dọa về khả năng tồn tại. Trong bối cảnh đó, việc khai thác giá trị của thiên nhiên cho phát triển kinh tế nếu thiếu quy hoạch và kiểm soát phù hợp có thể tiếp tục gia tăng áp lực lên các hệ sinh thái nhạy cảm.

Ở chiều ngược lại, tiềm năng của du lịch trong việc tạo nguồn thu cho bảo tồn và mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân địa phương vẫn còn dư địa lớn. Những hạn chế về cơ chế tài chính, tiêu chí kỹ thuật, hướng dẫn phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên, sự phối hợp giữa các bên cũng như mức độ tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp đang là những vấn đề cần được giải quyết.

Từ thực tế này, Dự án WTP hướng tới xây dựng cách tiếp cận trong đó thiên nhiên không chỉ là tài nguyên để khai thác mà còn trở thành nền tảng tạo nguồn lực cho chính hoạt động bảo vệ thiên nhiên. Một phần giá trị kinh tế hình thành từ du lịch có thể được đưa trở lại phục vụ quản lý khu bảo tồn, bảo vệ sinh cảnh, bảo tồn các loài hoang dã và cải thiện sinh kế của cộng đồng.

Phát biểu tại lễ khởi động, ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, cho biết Việt Nam có hệ thống đa dạng sinh học rất phong phú, với nhiều loài có giá trị đặc biệt đối với các hệ sinh thái và môi trường sống đặc trưng.

Theo ông Bùi Chính Nghĩa, Dự án WTP mang ý nghĩa thiết thực khi xác định du lịch sinh thái và du lịch dựa vào thiên nhiên là một hướng tiếp cận phù hợp để giải quyết đồng thời yêu cầu bảo tồn và phát triển. “Đây là phương thức nhằm phát huy tối đa giá trị tài nguyên, tạo cơ hội phát triển sinh kế mới, từ đó hỗ trợ nguồn lực tài chính tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn hệ sinh thái và phát triển cộng đồng”, ông Bùi Chính Nghĩa nhấn mạnh.

ong-bui-chinh-nghia-1788264359.jpeg
Ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học phát biểu. Ảnh: UNDP

Hai địa điểm được lựa chọn để triển khai các mô hình thí điểm là Vườn quốc gia Núi Chúa và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Tại đây, dự án sẽ thử nghiệm các phương thức quản lý, hợp tác và tài chính nhằm phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên song hành với bảo tồn các loài hoang dã, quý hiếm.

Công nghệ hỗ trợ giám sát, cộng đồng hưởng lợi

Dự án WTP được thiết kế với 4 hợp phần có mối liên hệ chặt chẽ. Trước hết là xây dựng và hoàn thiện các hướng dẫn, tiêu chí, công cụ để bảo đảm hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên được phát triển phù hợp với yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học.

Tiếp đó, dự án sẽ triển khai các mô hình quản lý, hợp tác và tài chính tại Vườn quốc gia Núi Chúa và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Đây được xem là bước thử nghiệm quan trọng để hình thành những cách thức có thể áp dụng rộng hơn trong thực tiễn.

Hợp phần thứ ba tập trung vào nâng cao năng lực và thay đổi hành vi của các chủ thể trong chuỗi giá trị du lịch. Đối tượng hướng tới không chỉ là doanh nghiệp, cộng đồng mà còn có du khách và những người trực tiếp cung cấp dịch vụ du lịch. Mục tiêu là giảm nhu cầu mua bán, sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm động vật hoang dã bất hợp pháp, đồng thời hạn chế những hoạt động có nguy cơ gây tổn hại đến sinh cảnh.

Hợp phần còn lại tập trung vào quản lý tri thức, giám sát, đánh giá, chia sẻ kết quả và nhân rộng những mô hình có hiệu quả. Cùng với các giải pháp về chính sách và quản lý, công nghệ được xác định là một công cụ hỗ trợ quan trọng. Hệ thống tuần tra SMART dự kiến được thiết lập tại Vườn quốc gia Núi Chúa và mở rộng tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, qua đó hỗ trợ thu thập dữ liệu, giám sát hoạt động bảo tồn và phục vụ quá trình ra quyết định.

Các thiết bị bay không người lái, ứng dụng trên nền tảng di động và những công cụ thu thập dữ liệu cũng sẽ được nghiên cứu, ứng dụng để phục vụ theo dõi đa dạng sinh học, cứu hộ, phòng cháy chữa cháy và phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Theo thiết kế dự án, khoảng 145.414 ha tại hai vườn quốc gia sẽ được hưởng lợi từ việc nâng cao hiệu quả quản lý. Dự án đồng thời kỳ vọng đóng góp khoảng 15,7 triệu tấn CO2 tương đương vào mục tiêu giảm phát thải.

Không chỉ đặt trọng tâm vào bảo tồn, WTP còn hướng tới tạo ra những lợi ích kinh tế cụ thể cho người dân. Dự án dự kiến tạo mới, phục hồi hoặc duy trì 1.800 việc làm xanh, trong đó phụ nữ chiếm khoảng 70%, đồng thời mang lại lợi ích trực tiếp cho khoảng 3.000 người tại các khu vực triển khai.

Các tiêu chí về bảo tồn đa dạng sinh học cũng sẽ được lồng ghép sâu hơn vào hoạt động đào tạo, chứng nhận và xây dựng quy tắc ứng xử trong ngành du lịch. Đến cuối kỳ, dự án đặt mục tiêu có 295 hướng dẫn viên du lịch được cấp chứng chỉ và được nâng cao kiến thức về bảo tồn đa dạng sinh học.

Bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, cho rằng du lịch thuận thiên có thể tạo ra mối liên kết thực chất giữa bảo tồn và phát triển. Theo bà, việc phát triển du lịch cần được đặt trong giới hạn phù hợp với khả năng chịu tải của hệ sinh thái, đồng thời người dân địa phương phải nhận được những lợi ích thiết thực và lâu dài từ hoạt động này.

“Để đảm bảo nguyên tắc cân bằng sinh thái, cần phát triển du lịch trong phạm vi hoặc giới hạn của hệ sinh thái. Cộng đồng địa phương cần nhìn thấy các lợi ích thực tế và lâu dài, đồng thời du lịch phải đóng góp ngược lại vào việc bảo tồn thiên nhiên”, bà Francesca Nardini nhấn mạnh.

Theo Phó Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, khi cộng đồng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng có lợi ích từ việc bảo vệ tài nguyên, bảo tồn sẽ không chỉ dựa vào nguồn ngân sách mà có thêm động lực kinh tế để duy trì lâu dài. “UNDP cam kết đồng hành cùng Việt Nam nói chung và Bộ Nông nghiệp và Môi trường nói riêng để hiện thực hóa các mục tiêu về môi trường và đa dạng sinh học thành hành động thực tế”, bà Francesca Nardini khẳng định.

Với cách tiếp cận này, WTP kỳ vọng hình thành những mô hình mà bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng bổ trợ cho nhau. Khi hệ sinh thái được bảo vệ, chất lượng và sức hấp dẫn của các điểm đến được duy trì trong dài hạn; ngược lại, nguồn thu và việc làm từ du lịch có trách nhiệm sẽ tạo thêm nguồn lực để cộng đồng và các bên liên quan tiếp tục đầu tư cho bảo tồn.

Đăng ký đặt báo