Cắt giảm thủ tục, phân quyền mạnh để khơi thông nguồn lực kinh tế

Cắt giảm thủ tục, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và phân quyền về địa phương đang được đẩy mạnh, nhằm giảm chi phí tuân thủ, tháo gỡ điểm nghẽn và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
cat-giam-thu-tuc-hanh-chinh-1788258954.webp
Đẩy mạnh phân quyền, đơn giản hóa thủ tục để hỗ trợ doanh nghiệp.

Cắt giảm thủ tục, chuyển mạnh sang hậu kiểm

Theo Nghị quyết số 258/NQ-CP ngày 31/8/2026, Chính phủ xác định cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2026 - 2030 phải tạo chuyển biến thực chất, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Trọng tâm là đơn giản hóa tối đa thủ tục, điều kiện kinh doanh, đồng thời chuyển phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên quản trị rủi ro.

Thay vì yêu cầu doanh nghiệp liên tục bổ sung hồ sơ, giấy tờ, cơ quan quản lý sẽ từng bước khai thác dữ liệu đã có để phục vụ giải quyết thủ tục. Cách tiếp cận này nhằm giảm thời gian, chi phí tuân thủ và hạn chế những khâu trung gian không tạo thêm giá trị.

Một trong những mục tiêu được đặt ra là không để phát sinh thêm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh hoặc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không cần thiết so với kết quả phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa đã được Chính phủ triển khai tại 11 nghị quyết thực hiện Kết luận số 18-KL/TW.

Đến năm 2027, 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện phải được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Kết quả giải quyết thủ tục được số hóa để có thể tái sử dụng dữ liệu, đồng thời bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ bí mật nhà nước.

Nguyên tắc “chỉ cung cấp thông tin một lần” cũng được cụ thể hóa. Theo đó, nếu thông tin trong thành phần hồ sơ đã có trên các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản công bố, người dân và doanh nghiệp không phải cung cấp lại, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác.

Tinh thần cắt giảm cũng được thể hiện trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Từ năm 2027, 40 thủ tục hành chính sẽ được loại bỏ, 12 thủ tục được đơn giản hóa và 40 điều kiện kinh doanh được cắt giảm.

Các thủ tục bị loại bỏ trải rộng từ giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thức ăn chăn nuôi đến thủy lợi, thủy sản, tài nguyên nước và khoáng sản. Một số nội dung đáng chú ý liên quan đến thăm dò, đóng cửa mỏ khoáng sản, giấy phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa và các thủ tục về tác động vào thời tiết.

Trong lĩnh vực phân bón, thời hạn Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam được kéo dài từ 5 năm lên 10 năm và mỗi lần gia hạn cũng có thời hạn 10 năm. Việc kéo dài thời gian hiệu lực giúp doanh nghiệp giảm số lần thực hiện thủ tục trong suốt vòng đời sản phẩm, qua đó tiết kiệm thời gian và chi phí.

Một số thủ tục khác cũng được bãi bỏ, trong đó có cấp lại Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam khi bị mất hoặc hư hỏng và kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón nhập khẩu. Đây là biểu hiện rõ của việc giảm tiền kiểm, đồng thời chuyển thêm trách nhiệm bảo đảm chất lượng sang doanh nghiệp.

Đối với thức ăn chăn nuôi, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được tự công bố và tự thay đổi thông tin sản phẩm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đổi lại, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về chất lượng, an toàn và tính chính xác của thông tin đã công bố.

Phân quyền mạnh hơn, quản lý dựa trên dữ liệu

Cải cách thủ tục hành chính không chỉ tập trung vào việc bỏ bớt quy định mà còn gắn với việc phân bổ lại thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương. Theo luật mới, 24 thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường được phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện. Trong số này có các thủ tục về kiểm tra nhà nước đối với chất lượng thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu, trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi, cấp và gia hạn Giấy chứng nhận thực hành tốt sản xuất thuốc thú y, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và một số thủ tục liên quan đến thủy sản.

Riêng lĩnh vực khoáng sản có 14 thủ tục được phân quyền. Nội dung bao gồm cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, trả lại và chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản; thăm dò bổ sung để nâng cấp tài nguyên, trữ lượng; phê duyệt, điều chỉnh đề án đóng cửa mỏ; chấp thuận phương án và quyết định đóng cửa mỏ cùng một số thủ tục tại khu vực cấm hoặc tạm thời cấm hoạt động khoáng sản. Cấp tỉnh cũng được giao thực hiện thủ tục chấp thuận nội dung đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc thực hiện dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Việc đưa thêm thẩm quyền về địa phương được kỳ vọng rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan quản lý và đối tượng thực hiện thủ tục, đồng thời tăng tính chủ động trong xử lý hồ sơ. Tuy nhiên, để việc phân quyền không tạo ra chênh lệch về chất lượng phục vụ, Chính phủ yêu cầu bố trí đầy đủ nhân lực, tài chính và tổ chức đào tạo cho đội ngũ trực tiếp giải quyết thủ tục.

Cùng với phân quyền, chuyển đổi số được xác định là nền tảng để cải cách vận hành. Đến năm 2027, 100% thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước đủ điều kiện phải được thực hiện trên môi trường điện tử. Chế độ báo cáo của doanh nghiệp đủ điều kiện cũng phải được thực hiện điện tử.

Các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành sẽ được kết nối với hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, qua đó từng bước thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu. Việc cắt giảm thành phần hồ sơ sẽ được thực hiện dựa trên mức độ hoàn thiện và khả năng vận hành thực tế của các cơ sở dữ liệu.

Đến năm 2030, 100% dịch vụ công thiết yếu được tiếp nhận không phụ thuộc địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công. Khi dữ liệu và hạ tầng đáp ứng yêu cầu, dịch vụ công sẽ được cung cấp chủ động thay vì chỉ xử lý khi người dân hoặc doanh nghiệp phát sinh nhu cầu và nộp hồ sơ.

Cổng Dịch vụ công quốc gia cũng được định hướng trở thành “một cửa số” của quốc gia, giúp tập trung và liên thông việc cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử. Một yêu cầu khác được đặt ra là cải cách phải gắn với kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Các cơ quan phải kịp thời phát hiện việc tự ý bổ sung thành phần hồ sơ, yêu cầu hoặc quy trình ngoài quy định, đồng thời khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm và cơ chế xin - cho.

Hiệu quả cải cách sẽ ngày càng được đánh giá bằng dữ liệu thực tế thay vì chỉ dựa trên số lượng thủ tục được cắt giảm. Thời gian và chi phí mà người dân, doanh nghiệp phải bỏ ra sẽ là những tiêu chí quan trọng để đo lường chất lượng phục vụ. Đặc biệt, đến năm 2030, Chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trong giải quyết thủ tục hành chính (SIPAS) được đặt mục tiêu đạt tối thiểu 95%. Toàn bộ phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính cũng phải được tiếp nhận, xử lý và công khai kết quả đúng thời hạn.

Chính phủ đồng thời yêu cầu tăng sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình cải cách, từ thiết kế, ban hành đến thực thi và giám sát thủ tục. Các hội nghị đối thoại với hiệp hội, doanh nghiệp và người dân sẽ được tổ chức định kỳ để tiếp nhận phản ánh, sáng kiến và chuyển hóa thành các phương án cải cách cụ thể.

Trước ngày 1/10/2026, các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải ban hành văn bản phân công triển khai Nghị quyết 258/NQ-CP, xác định rõ mục tiêu, tiến độ, kết quả dự kiến và đơn vị chịu trách nhiệm.

Từ việc cắt giảm thủ tục trong các lĩnh vực sản xuất đến phân quyền mạnh hơn cho địa phương và xây dựng nền hành chính dựa trên dữ liệu, cải cách lần này hướng tới thay đổi cách thức tương tác giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp. Nếu được triển khai đồng bộ, những thay đổi này không chỉ giảm gánh nặng thủ tục mà còn góp phần tạo môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030.

Đăng ký đặt báo