Tham gia dự án Hỗ trợ ngành lâm nghiệp Việt Nam của Liên minh châu Âu giai đoạn 2026–2030, Quảng Ngãi có thêm nguồn lực thúc đẩy bảo tồn, phục hồi và quản lý rừng bền vững. Các hoạt động hướng tới nâng cao chất lượng rừng, tăng khả năng hấp thụ carbon và phát triển sinh kế cho người dân sống gần rừng.
Thêm nguồn lực hợp tác quốc tế cho bảo vệ rừng
Theo thông tin từ Báo Nông nghiệp và Môi trường về Quyết định số 3882/QĐ-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quảng Ngãi là một trong năm địa phương tham gia dự án Hỗ trợ ngành lâm nghiệp Việt Nam của Liên minh châu Âu, viết tắt là EVFSP.
Dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại của EU thông qua Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ), thực hiện trong giai đoạn 2026–2030. Tại Quảng Ngãi, các đơn vị tham gia gồm Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Rẫy.
Ngoài Quảng Ngãi, các địa phương triển khai dự án gồm Điện Biên, Sơn La, Gia Lai và Đắk Lắk; hoạt động cấp Trung ương được thực hiện tại Hà Nội. Tổng vốn toàn dự án hơn 20,25 triệu euro, tương đương khoảng 596,1 tỷ đồng theo thông tin công bố. Trong đó, nguồn ODA không hoàn lại của EU là 20 triệu euro, phần còn lại là vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam bằng tiền mặt và hiện vật. Đây là nguồn vốn cho toàn bộ dự án, không phải khoản phân bổ riêng cho Quảng Ngãi.

Phục hồi rừng gắn với nâng cao năng lực quản lý
Ở quy mô chương trình, EVFSP tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ: bảo tồn, phục hồi và quản lý bền vững rừng tự nhiên thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển chuỗi giá trị dựa vào rừng theo hướng thân thiện với môi trường; tăng cường năng lực và hỗ trợ hoàn thiện khung pháp lý để nhân rộng các giải pháp dựa vào thiên nhiên.
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp với GIZ triển khai dự án. Cách tiếp cận này kết hợp hoạt động bảo vệ hệ sinh thái với cải thiện quản trị, tạo cơ sở duy trì kết quả phục hồi rừng trong dài hạn.
Tại Quảng Ngãi, các nội dung dự kiến bao gồm đánh giá hiện trạng rừng, trữ lượng carbon và công tác quản trị; rà soát, xây dựng phương án quản lý rừng bền vững gắn với thích ứng biến đổi khí hậu. Dự án cũng hướng tới phục hồi, nâng cao chất lượng rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Những hoạt động này cho thấy việc phục hồi rừng được đặt trong mối liên hệ với chất lượng hệ sinh thái và hiệu quả quản lý. Đánh giá hiện trạng là bước cần thiết để lựa chọn biện pháp phù hợp với từng khu vực, đồng thời tạo căn cứ theo dõi những thay đổi trong quá trình thực hiện.
Phát triển sinh kế từ giá trị đa dụng của rừng
Một nội dung được dự kiến triển khai là phát triển lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu dưới tán rừng và du lịch sinh thái. Các mô hình liên kết giữa chủ rừng với hộ gia đình, cộng đồng dân cư cũng sẽ được nghiên cứu nhằm gắn bảo vệ rừng với sinh kế.
Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với những địa bàn mà đời sống người dân gắn chặt với tài nguyên rừng. Khi hoạt động bảo tồn đi cùng cơ hội thu nhập phù hợp, cộng đồng có thêm động lực tham gia và duy trì công tác bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, lựa chọn mô hình kinh tế cần căn cứ vào đặc điểm sinh thái, chức năng từng loại rừng và khả năng tổ chức sản xuất. Với dược liệu dưới tán rừng hay du lịch sinh thái, hiệu quả lâu dài phụ thuộc vào việc giữ được chất lượng môi trường và nguồn tài nguyên làm nền tảng cho hoạt động sinh kế.
Ở cấp chương trình, dự án cũng chú trọng sự tham gia công bằng, toàn diện và bình đẳng giới trong phát triển chuỗi giá trị. Điều này đặt cộng đồng vào vai trò chủ thể tham gia, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng hỗ trợ.
Kết hợp công nghệ số với bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
Dự án dự kiến nâng cao hiệu quả tuần tra, bảo vệ rừng thông qua sự tham gia của cộng đồng và ứng dụng công cụ số, công nghệ mới. Các hoạt động hướng tới hạn chế khai thác trái phép, lấn chiếm và sử dụng đất rừng sai quy định.
Sự kết hợp giữa thông tin giám sát và hiểu biết thực địa của người dân có thể hỗ trợ phát hiện sớm biến động rừng. Để phát huy hiệu quả, công nghệ cần đi cùng năng lực sử dụng, quy trình tiếp nhận thông tin và trách nhiệm xử lý rõ ràng của các đơn vị liên quan.
Với Quảng Ngãi, cơ hội từ EVFSP nằm ở cả nguồn lực tài chính và việc tiếp cận phương pháp quản lý rừng thích ứng với biến đổi khí hậu. Kết quả thực tế cần được thể hiện qua chất lượng rừng được cải thiện, năng lực quản lý được nâng lên và sự tham gia bền vững của cộng đồng.
Việc đặt phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế trong cùng một chương trình là cơ sở để địa phương khai thác giá trị đa dụng của rừng, đồng thời gìn giữ nguồn tài nguyên cho phát triển lâu dài.