
Từ những nan mây, sợi tre được chế tác thành đồ dùng lâu bền ở Phú Vinh, những giải pháp tiết kiệm điện trong nhà máy, tòa nhà, đến việc giảm một chiếc túi dùng một lần tại quầy thanh toán, chuyển đổi xanh ở Hà Nội đang được cụ thể hóa qua những thay đổi trong sản xuất và đời sống. Nền tảng của giai đoạn 2021–2025 đặt ra yêu cầu mới cho chặng đường 2026–2030: kết nối các mô hình thành động lực phát triển, để tăng trưởng đi cùng sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao chất lượng sống.
Một sản phẩm mây, tre đan mang trong mình nhiều hơn công năng chứa đựng hay trang trí. Đó còn là câu chuyện về vật liệu, kỹ năng người thợ, cách xử lý nguyên liệu và quãng đường từ cơ sở sản xuất đến tay người mua. Một chiếc túi được sử dụng lại cũng gợi ra những câu hỏi tương tự: dùng được bao nhiêu lần, thay thế được bao nhiêu bao bì, rồi sẽ được thu gom thế nào khi hết tuổi thọ?
Nhìn từ những vật dụng quen thuộc ấy, chuyển đổi xanh trở nên gần gũi. Nó đi vào cách một cơ sở tổ chức sản xuất, cách một nhà bán lẻ phục vụ khách hàng, cách người dân lựa chọn đồ dùng và phương tiện đi lại.
Với Hà Nội, thách thức nằm ở việc kết nối những thay đổi đó trên quy mô đô thị. Một mô hình tốt cần có điều kiện để duy trì, một sáng kiến cần tìm được người áp dụng, một sản phẩm cải tiến cần có thị trường. Khi các mắt xích cùng chuyển động, hiệu quả tiết kiệm tài nguyên mới có thể được nối dài từ nơi sản xuất đến đời sống hằng ngày.

Ở phía Tây Hà Nội, làng nghề mây, tre đan Phú Vinh gợi mở một cách tiếp cận chuyển đổi xanh từ chính vốn nghề truyền thống. Theo tư liệu trên cổng thông tin Sản xuất và tiêu dùng bền vững của Bộ Công Thương, nguyên liệu của làng nghề gồm mây, tre, giang và các loại cây, sợi tự nhiên; sản phẩm đã mở rộng từ vật dụng gia đình sang đồ nội thất, trang trí và túi xách.
Từ những nguyên liệu ấy, vấn đề đặt ra cho làng nghề hôm nay là làm sao giữ được kỹ thuật chế tác, đồng thời đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tính tiện dụng và tác động môi trường. Bởi người mua lựa chọn một món đồ còn dựa vào khả năng sử dụng trong không gian sống hiện đại, sự thuận tiện khi bảo quản và tuổi thọ của sản phẩm.

Lời kể của người nghệ nhân cho thấy tri thức bản địa có thể trở thành một nguồn lực cho đổi mới. Những kinh nghiệm về vật liệu và màu sắc tạo ra bản sắc; khi được nghiên cứu, chuẩn hóa và kết hợp với thiết kế phù hợp, bản sắc ấy có thể giúp sản phẩm tìm được vị trí riêng trên thị trường.
Tư liệu về Phú Vinh cũng ghi nhận sự thay đổi trong xử lý nguyên liệu: phương pháp luộc được sử dụng thay cho cách ngâm mây, tre trong ao, mương trước đây. Đây là chi tiết đáng chú ý khi xem xét quá trình cải tiến tại làng nghề. Tuy vậy, để đánh giá đầy đủ hiệu quả môi trường, vẫn cần theo dõi lượng nước, nhiên liệu, nước thải và điều kiện làm việc ở từng cơ sở.

Một vật liệu có nguồn gốc tự nhiên cần được đặt trong toàn bộ vòng đời sản phẩm. Nguyên liệu được khai thác ra sao, vận chuyển thế nào, công đoạn xử lý tiêu tốn bao nhiêu năng lượng, đồ dùng có dễ sửa chữa và sử dụng lâu dài hay không — từng câu hỏi đều liên quan đến tính bền vững.
Điều này cũng mở ra hướng hỗ trợ thiết thực cho các làng nghề: hướng dẫn quy trình sản xuất, cải thiện điều kiện lao động, phát triển mẫu mã và kết nối thị trường. Khi người thợ có đơn hàng ổn định và hiểu rõ yêu cầu của người mua, việc đầu tư cải tiến mới có cơ sở lâu dài.
Từ Phú Vinh, câu chuyện chuyển đổi xanh của Hà Nội có thêm một chiều sâu văn hóa: giữ nghề bằng khả năng thích ứng, để kỹ năng truyền thống tiếp tục tạo sinh kế trong những nhu cầu mới.

Nếu làng nghề cho thấy khả năng đổi mới từ vật liệu, các cơ sở công nghiệp và công trình xây dựng lại đặt ra bài toán quản lý dòng năng lượng, nguyên liệu trong vận hành.
Một thiết bị hoạt động ngoài thời gian cần thiết, một hệ thống chiếu sáng chưa phù hợp với nhu cầu sử dụng, một công đoạn tạo nhiều sản phẩm lỗi đều có thể làm tăng chi phí. Doanh nghiệp cần biết phần tiêu hao nào phục vụ sản xuất và phần nào có thể giảm bằng điều chỉnh kỹ thuật, quy trình.
Theo báo cáo được ông Nguyễn Đình Thắng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội, trình bày tại Diễn đàn Tiêu dùng bền vững năm 2026, giai đoạn 2021–2025, thành phố hỗ trợ kiểm toán năng lượng cho 193 doanh nghiệp, xây dựng hệ thống quản lý năng lượng cho 64 doanh nghiệp và hỗ trợ đánh giá sản xuất sạch hơn, sản xuất, tiêu dùng bền vững cho trên 180 cơ sở.

Các hoạt động này tạo điểm khởi đầu để doanh nghiệp nhận diện hiện trạng. Kiểm toán giúp tìm cơ hội tiết kiệm; hệ thống quản lý giúp biến cơ hội thành nhiệm vụ có người phụ trách, có theo dõi và có điều chỉnh.
Kinh nghiệm từ chương trình sử dụng năng lượng xanh năm 2025 bổ sung những ví dụ cụ thể. Theo thông tin công bố trên trang Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, lễ trao danh hiệu tối 10/12/2025 vinh danh 87 cơ sở, công trình. Các giải pháp được ghi nhận gồm điện mặt trời áp mái, biến tần cho động cơ, máy nén khí và hệ thống quản lý tòa nhà.

Khả năng áp dụng ở những quy mô khác nhau là yếu tố quyết định giá trị lan tỏa. Một mô hình chỉ thực sự hữu ích với cơ sở tiếp nhận khi có thể giải thích được cần đầu tư gì, phù hợp điều kiện nào, vận hành ra sao và thu hồi vốn trong khoảng thời gian nào.
Với doanh nghiệp nhỏ, giải pháp phù hợp có thể bắt đầu từ lịch vận hành, bảo trì hoặc phân công trách nhiệm theo dõi điện năng. Với cơ sở có nhu cầu sử dụng lớn, bài toán có thể đòi hỏi thay thế thiết bị và tổ chức lại hệ thống quản lý.
Cũng theo nguồn thông tin về chương trình năm 2025, nhóm 21 cơ sở trọng điểm triển khai 125 giải pháp, tiết kiệm khoảng 1.850 tấn dầu tương đương trong ba năm, với giá trị kinh tế hơn 25 tỷ đồng. Cần đọc kết quả này trong đúng phạm vi nhóm cơ sở được báo cáo, thay vì suy rộng thành mức tiết kiệm chung của toàn thành phố.
Từ góc độ quản trị, các trường hợp ấy cho thấy việc tiết kiệm cần được duy trì sau thời điểm đầu tư. Thiết bị mới vẫn phải được vận hành phù hợp; số liệu cần được so sánh với sản lượng, thời gian hoạt động và điều kiện sử dụng.
Chuyển đổi xanh vì vậy đòi hỏi cả công nghệ lẫn năng lực của đội ngũ quản lý, kỹ thuật. Một giải pháp được lựa chọn đúng cần tiếp tục được vận hành đúng, để hiệu quả không dừng lại ở thời điểm nghiệm thu.

Hành trình của sản phẩm tiếp tục tại hệ thống phân phối. Ở đây, các mục tiêu tiết kiệm tài nguyên gặp những quyết định rất cụ thể của người mua: có lấy thêm túi hay không, chọn đồ dùng bền hơn hay tiện lợi trước mắt, tin vào thông tin nào trên nhãn hàng?
Một ví dụ là chương trình Ngày không túi ni-lông của AEON Việt Nam. Theo thông tin doanh nghiệp công bố ngày 3/7/2025, chương trình mở rộng tới AEON Xuân Thủy từ ngày 7/7/2025; tại quầy thanh toán nhanh không tiền mặt trong ngày áp dụng, khách hàng không được phát túi. Doanh nghiệp đồng thời cung cấp lựa chọn thuê túi sử dụng lại và tận dụng thùng giấy ở khu vực đóng gói.
Chi tiết đáng chú ý nằm ở phương án thay thế. Một người quên mang túi cá nhân cần cách đưa hàng hóa về nhà thuận tiện. Khi lựa chọn ấy có sẵn tại điểm thanh toán, việc thay đổi thói quen có thêm cơ hội diễn ra.
Dù vậy, hiệu quả lâu dài cần được nhìn qua số lần tái sử dụng và lượng bao bì thực sự giảm. Nếu một chiếc túi bền chỉ được dùng một lần rồi bỏ đi, giá trị của phương án thay thế sẽ bị hạn chế. Vì thế, hướng dẫn sử dụng lại và cách tổ chức thu hồi cũng cần được quan tâm.
Bài toán rộng hơn thuộc về toàn bộ chuỗi cung ứng. Nhà sản xuất quyết định cách đóng gói ban đầu; đơn vị vận chuyển cần bảo đảm an toàn hàng hóa; nhà bán lẻ tổ chức trưng bày, giao nhận; người mua quyết định mang theo đồ đựng hay nhận thêm bao bì.
Ở mỗi khâu đều có cơ hội giảm lãng phí. Nhưng để các cơ hội nối tiếp nhau, doanh nghiệp cần trao đổi về kích thước bao gói, vật liệu, yêu cầu bảo quản và khả năng thu gom sau sử dụng. Giảm bao bì cũng phải đi cùng bảo vệ chất lượng hàng hóa, tránh phát sinh hư hỏng và lãng phí sản phẩm.
Thông tin minh bạch là điều kiện để chuỗi này vận hành tốt. Người mua cần biết sản phẩm có đặc tính gì, chứng nhận áp dụng cho nội dung nào và hướng dẫn xử lý bao bì ra sao.
Tại Diễn đàn Tiêu dùng bền vững ngày 15/10/2026, vấn đề khả năng tiếp cận, mức giá và căn cứ cho những tuyên bố môi trường cũng được đặt ra trong mối liên hệ với quyền lựa chọn của người tiêu dùng.
Với Hà Nội, mở rộng thị trường xanh vì thế cần đồng thời giải quyết đầu ra cho doanh nghiệp và sự thuận tiện cho người mua. Khi chất lượng, giá cả và thông tin tạo được niềm tin, lựa chọn bền vững mới có cơ hội trở thành thói quen.

Một chiếc túi có thể được thay đổi ngay tại quầy thanh toán. Một hành trình đi làm lại phụ thuộc vào mạng lưới giao thông. Một hộ gia đình có thể phân loại rác, nhưng kết quả còn gắn với cách thu gom và xử lý sau đó.
Nhìn trên quy mô đô thị, chuyển đổi xanh cần một hệ thống hạ tầng giúp người dân thực hành điều đã được khuyến khích.
Trong giai đoạn trước, Hà Nội triển khai các kế hoạch về tăng trưởng xanh, thực hiện Thỏa thuận Paris và giảm nhẹ phát thải trong quản lý chất thải. Các hướng hành động được Báo Điện tử Chính phủ ghi nhận năm 2025 gồm phương tiện sử dụng năng lượng sạch, điện mặt trời áp mái, cải thiện hạ tầng môi trường và truyền thông cộng đồng.
Từ những định hướng đó, yêu cầu cho giai đoạn tiếp theo là tổ chức các dịch vụ có khả năng kết nối. Giao thông công cộng cần tính đến chặng đi bộ, điểm chuyển tuyến và sự phù hợp với giờ học, giờ làm. Hạ tầng cho phương tiện điện cần được xem xét cùng khả năng cấp điện, vị trí và nhu cầu sử dụng.
Tương tự, phân loại rác cần hướng dẫn dễ hiểu, lịch thu gom phù hợp và quy trình tiếp nhận nhất quán. Sự tham gia của người dân sẽ khó duy trì nếu công sức phân loại không được tiếp nối trong các khâu sau.
Với năng lượng, một công trình tiết kiệm điện cần được nhìn từ thiết kế đến khai thác. Thiết bị có hiệu suất tốt cần cách vận hành phù hợp với lượng người sử dụng, thời tiết và thời gian hoạt động. Quản lý hiệu quả giúp tránh đầu tư xong nhưng chưa khai thác hết khả năng tiết kiệm.
Ở đây, dữ liệu cần phục vụ cả điều hành lẫn đánh giá. Số chuyến xe, lượng hành khách, mức điện tiêu thụ hay khối lượng chất thải được thu gom có thể giúp nhận diện nơi đang hoạt động tốt, nơi cần điều chỉnh.
Thành công của hạ tầng xanh cuối cùng phải được thể hiện trong đời sống: người dân có thêm lựa chọn thuận tiện, doanh nghiệp giảm chi phí hợp lý, dịch vụ đô thị vận hành ổn định hơn.
Đó là cơ sở để những thay đổi từ mỗi hộ gia đình, mỗi cơ sở sản xuất có thể cộng hưởng trên phạm vi thành phố. Khi hành động xanh dễ thực hiện và mang lại lợi ích có thể cảm nhận, sự tham gia của cộng đồng sẽ có nền tảng lâu dài.
Chặng đường 2026–2030: Đưa mục tiêu vào từng việc cụ thể
Nền tảng của giai đoạn 2021–2025 mở ra chặng đường mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về tổ chức thực hiện.
Theo định hướng ông Nguyễn Đình Thắng nêu tại Diễn đàn Tiêu dùng bền vững năm 2026, Hà Nội tiếp tục cụ thể hóa các chương trình quốc gia và định hướng phát triển Thủ đô, gắn với Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 29/4/2026 của Thành ủy. Tầm nhìn được xác định là xây dựng đô thị xanh, thông minh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao vào năm 2035.

Đến năm 2030, theo nội dung phát biểu, thành phố đặt mục tiêu giảm 18,71% phát thải khí nhà kính; giảm 7–10% mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu; tiết kiệm 8–10% tổng mức tiêu thụ năng lượng và đưa tỷ lệ tổn thất điện năng xuống dưới 3%.
Đồng thời, 100% siêu thị, trung tâm thương mại được định hướng phân phối, sử dụng bao bì thân thiện môi trường, từng bước thay thế bao bì nhựa dùng một lần, khó phân hủy.
Để các mục tiêu trở thành kết quả, từng chương trình cần có phạm vi thực hiện, mốc so sánh, đơn vị chịu trách nhiệm và cách đo lường rõ ràng. Mức giảm phát thải, mức tiết kiệm năng lượng và tỷ lệ tổn thất điện là những chỉ tiêu khác nhau, cần được theo dõi theo phương pháp tương ứng.
Đề cập vai trò của chính quyền trong quá trình này, ông Nguyễn Đình Thắng nhấn mạnh:

Vai trò đồng hành đặt ra yêu cầu thiết kế hỗ trợ sát với khả năng của cơ sở sản xuất. Một doanh nghiệp đã được đánh giá kỹ thuật có thể cần bước tiếp theo là lập phương án đầu tư; một cơ sở đã đổi mới quy trình có thể cần hỗ trợ chứng minh chất lượng và tiếp cận hệ thống phân phối.
Chính sách vì thế cần nối được các công đoạn: tư vấn, lựa chọn giải pháp, huy động nguồn lực, triển khai và kiểm chứng kết quả. Khi sự hỗ trợ bị ngắt ở giữa, doanh nghiệp có thể hiểu cần làm gì nhưng vẫn khó bắt đầu.
Với các mô hình có hiệu quả, việc nhân rộng cần đi kèm hướng dẫn thực hành. Những thông tin về điều kiện áp dụng, chi phí, yêu cầu nhân lực và rủi ro vận hành sẽ hữu ích hơn cho cơ sở tiếp nhận. Kinh nghiệm từ một doanh nghiệp lớn cần được điều chỉnh trước khi đưa vào một cơ sở nhỏ hoặc hộ sản xuất.
Ở phía thị trường, mục tiêu bao bì thân thiện môi trường cần được cụ thể hóa bằng tiêu chí kiểm chứng, kế hoạch giảm lượng bao bì không cần thiết và điều kiện tái sử dụng, thu gom. Nhà bán lẻ có vai trò kết nối yêu cầu của người mua với thay đổi của nhà cung cấp.
Các chỉ tiêu này là mục tiêu phấn đấu, chưa phải kết quả đã đạt được. Khi theo dõi tiến độ cần đối chiếu văn bản triển khai để xác định mốc so sánh, phạm vi và phương pháp tính của từng chỉ tiêu.
Để đi tới các đích đến này, cần ưu tiên ba việc.
Trước hết, hỗ trợ doanh nghiệp phải gắn với kết quả thực hiện. Hồ sơ hỗ trợ cần cho thấy hiện trạng, phương án cải tiến, nguồn lực và cách đo hiệu quả, giúp doanh nghiệp lựa chọn giải pháp phù hợp.
Tiếp đó, cần kết nối chính sách sản xuất với thị trường. Những cơ sở đã cải thiện quy trình cần được hỗ trợ tiếp cận hệ thống phân phối, trình bày thông tin sản phẩm rõ ràng và nhận phản hồi để tiếp tục nâng chất lượng.
Cuối cùng, cần xây dựng cơ chế theo dõi có thể kiểm chứng. Mỗi mục tiêu nên được cụ thể hóa thành nhiệm vụ theo năm, đơn vị phụ trách và nguồn dữ liệu. Kết quả tốt cần được phân tích để nhân rộng; vướng mắc cần được nhận diện sớm để điều chỉnh.
Từ một cơ sở giảm lãng phí nguyên liệu đến một cửa hàng giảm bao gói, từ sản phẩm làng nghề bền hơn đến chuyến đi công cộng thuận tiện hơn, chuyển đổi xanh hiện diện trong những quyết định cụ thể.
Giá trị của giai đoạn 2026–2030 sẽ được thể hiện ở khả năng biến các mô hình ấy thành thực hành thường xuyên, đóng góp cho sức cạnh tranh của doanh nghiệp và chất lượng sống của người dân Thủ đô.
Cùng với đó, kết quả thực hiện cần được theo dõi liên tục. Bên cạnh số đơn vị được hỗ trợ, cần biết bao nhiêu giải pháp đã vận hành, hiệu quả được duy trì thế nào và trở ngại nào còn tồn tại. Những dữ liệu ấy giúp nguồn lực đến đúng nơi và giúp mô hình tốt được lựa chọn để mở rộng.
Từ nan tre của người thợ Phú Vinh đến thiết bị trong nhà máy, từ quầy thanh toán đến hệ thống giao thông, các câu chuyện xanh của Hà Nội gặp nhau ở cách sử dụng nguồn lực có trách nhiệm hơn. Mỗi thay đổi có quy mô khác nhau, nhưng đều cần sự bền bỉ để đi vào nếp vận hành.
Chặng đường 2026–2030 sẽ được làm nên từ những việc cụ thể ấy: cơ sở sản xuất biết mình tiết kiệm được gì, người mua hiểu lựa chọn của mình, dịch vụ đô thị giúp hành động xanh dễ thực hiện hơn. Khi những chuyển động đó gắn kết, mục tiêu phát triển Thủ đô xanh sẽ có thêm nền tảng từ chính hoạt động kinh tế và đời sống hằng ngày.