Hệ thống truy xuất nông sản mở rộng, kết nối gần 160.000 sản phẩm

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản đang được mở rộng kết nối, với hơn 158.000 sản phẩm được cập nhật, góp phần minh bạch chuỗi sản xuất và tăng khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu.
he-thong-truy-xuat-nong-san-1787552029.jpg
Hơn 158.000 sản phẩm nông sản được đưa lên hệ thống truy xuất.

Dữ liệu sản xuất từng bước được kết nối

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức công bố và đưa vào sử dụng từ ngày 1/7/2026, hướng tới xây dựng một nền tảng số dùng chung phục vụ tiếp nhận, tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Mô hình này được thiết kế theo nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, qua đó hạn chế việc doanh nghiệp phải nhập lại cùng một loại thông tin trên nhiều hệ thống khác nhau.

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi Thủ tướng Chính phủ, tổng dữ liệu được các địa phương và đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc kết nối, cập nhật vào hệ thống hiện đạt 158.234 sản phẩm, thuộc 18.524 dòng sản phẩm. Số dữ liệu này đến từ 200 doanh nghiệp cùng 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.

Riêng từ khi hệ thống chính thức vận hành, 19 doanh nghiệp đã thực hiện truy xuất và đưa 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm lên hệ thống. Cùng với đó, 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc đã gửi hồ sơ đăng ký kết nối. Các hồ sơ đang được xem xét, phê duyệt để triển khai theo quy định.

Phạm vi triển khai cũng tiếp tục được mở rộng khi có thêm 5 tỉnh, thành phố báo cáo kết quả thực hiện, nâng tổng số địa phương đã cung cấp thông tin lên 24/34 tỉnh, thành phố. Điểm đáng chú ý của hệ thống là dữ liệu không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Việc liên thông với hệ thống của địa phương và doanh nghiệp được thực hiện theo hướng không tạo thêm thủ tục hành chính, không đặt ra điều kiện xuất khẩu mới hay bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng một công nghệ cụ thể.

Từ góc độ sản xuất, hiệu quả bước đầu đã được một số hợp tác xã ghi nhận. Ông Đào Văn Toàn, Phó Giám đốc HTX Chè Hảo Đạt (Thái Nguyên), cho biết sau khoảng 2 tháng triển khai, hệ thống giúp đơn vị minh bạch hơn quá trình sản xuất, từ vùng nguyên liệu, chăm sóc, thu hái đến chế biến và đóng gói. Khi dữ liệu được tập trung lưu trữ, HTX có điều kiện quản lý hoạt động sản xuất hiệu quả hơn, trong khi khách hàng cũng có thêm cơ sở để kiểm chứng nguồn gốc sản phẩm.

Dù vậy, quá trình triển khai thực tế vẫn phát sinh những vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ. Theo ông Toàn, khối lượng dữ liệu phải cập nhật tương đối lớn trong khi hoạt động sản xuất diễn ra liên tục và trải qua nhiều công đoạn. Vì vậy, các doanh nghiệp, hợp tác xã mong muốn thao tác nhập liệu được đơn giản hóa, hệ thống thuận tiện hơn khi sử dụng trên điện thoại và có khả năng kết nối với những phần mềm quản lý đang được doanh nghiệp vận hành. Công tác tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật cũng được kỳ vọng duy trì thường xuyên hơn.

Hướng tới truy xuất theo chuỗi hàng xuất khẩu

Cùng với việc mở rộng dữ liệu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước hoàn thiện nền tảng kỹ thuật để các hệ thống có thể kết nối đồng bộ. Bộ đã bố trí 40 máy chủ phục vụ triển khai thử nghiệm hệ thống và ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về chuẩn kết nối, truyền nhận dữ liệu phiên bản 1.0. Đây được xem là cơ sở để các địa phương, doanh nghiệp thực hiện kết nối thống nhất.

Hệ thống cũng đã được kết nối kỹ thuật với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý, vận hành theo quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP. Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thống nhất kế hoạch kết nối với nền tảng quốc gia do C12, Bộ Công an xây dựng và sẵn sàng triển khai khi nền tảng này được công bố chính thức.

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), việc hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thực hiện truy xuất nguồn gốc sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới. Ông cho rằng công nghệ không nhất thiết phải tạo ra những quy trình phức tạp đối với người sản xuất.

"Trên thực tế, hoạt động truy xuất nguồn gốc có thể thực hiện một cách đơn giản, có thể chỉ thông qua một chiếc điện thoại với các ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối vạn vật để đưa dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống kết nối dùng chung, liên thông với hệ thống của Trung ương" - PGS.TS Nguyễn Đình Thọ chia sẻ.

Về lâu dài, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung chuẩn hóa dữ liệu, thống nhất các chỉ tiêu, nguồn số liệu và phương pháp tính, đồng thời hoàn thiện tiêu chuẩn dữ liệu, API, quy trình kiểm thử, xác nhận kết nối và đối soát. Mục tiêu là hình thành hệ thống dữ liệu có tính thống nhất cao, phục vụ đồng thời công tác quản lý và nhu cầu xác thực thông tin của thị trường.

Trong các mặt hàng được ưu tiên, sầu riêng đang được Bộ tập trung xây dựng hệ thống truy xuất theo chuỗi. Dữ liệu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch và các lô hàng xuất khẩu sẽ được kết nối, tạo thành chuỗi thông tin xuyên suốt từ vùng sản xuất đến thị trường. Trên cơ sở kết quả triển khai, các sản phẩm chủ lực khác sẽ tiếp tục được lựa chọn để mở rộng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tiếp tục đẩy mạnh kết nối, liên thông giữa các nền tảng truy xuất nguồn gốc và cơ sở dữ liệu liên quan. Việc thống nhất kiến trúc, tiêu chuẩn, chuẩn dữ liệu, định danh, xác thực và phương thức chia sẻ được xem là điều kiện quan trọng để dữ liệu có thể phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước cũng như truy xuất hàng hóa.

Cùng với đó, các dữ liệu thuộc phạm vi quản lý cần được rà soát, chuẩn hóa và chia sẻ, ưu tiên dữ liệu gốc và dữ liệu chuyên ngành phục vụ xác thực, đối soát. Việc kế thừa hệ thống hiện có, tránh đầu tư trùng lặp và thực hiện nguyên tắc dữ liệu được tạo lập một lần nhưng khai thác nhiều lần sẽ giúp giảm chi phí cho cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp.

Khi dữ liệu truy xuất được chuẩn hóa và kết nối xuyên suốt, nông sản không chỉ có thêm công cụ chứng minh nguồn gốc mà còn tăng khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn và minh bạch của thị trường quốc tế. Đây cũng là cơ sở để nâng cao giá trị hàng hóa và củng cố năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong quá trình mở rộng xuất khẩu.

Đăng ký đặt báo