Hồ Phú Ninh - ký ức xanh giữa đại ngàn

Có những công trình khi hoàn thành không chỉ làm thay đổi diện mạo một vùng đất, mà còn trở thành một phần ký ức của cả một thế hệ. Hồ Phú Ninh ở xứ Quảng là một công trình như thế. Chúng tôi đến vào mùa khô, nước vơi cạn quá nửa nhưng vẫn thấy thấp thoáng vẻ đẹp của hồ giữa một vùng núi non hùng vĩ.
1789863113515-1859221940040222142-7628181778688812207-028984fd3a38168b59a7b9ff66ab7395-1789863345.jpg
Một góc hồ Phú Ninh

Gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày những người dân xứ Quảng bắt tay xây dựng đại công trình thủy lợi giữa núi rừng, dòng nước Phú Ninh vẫn lặng lẽ chảy về đồng ruộng, làng quê và đô thị. Đến hôm nay, khi địa giới hành chính đã thay đổi, hồ Phú Ninh đã trở thành một phần không gian của thành phố Đà Nẵng, nhưng dấu ấn về một thời “đắp đập, ngăn sông, đưa nước về đồng” vẫn còn nguyên giá trị.

Một công trình của ý chí sau ngày đất nước thống nhất

Sau năm 1975, Quảng Nam - Đà Nẵng đứng trước một bài toán lớn: sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào nước trời, trong khi hạn hán, lũ lụt thường xuyên đe dọa đời sống người dân. Những cánh đồng rộng lớn của vùng Tam Kỳ, Núi Thành, Phú Ninh, Thăng Bình, Quế Sơn, Duy Xuyên... cần một nguồn nước ổn định để có thể thay đổi phương thức sản xuất.

Trong hoàn cảnh ấy, ý tưởng xây dựng hồ chứa Phú Ninh trở thành một quyết định có ý nghĩa đặc biệt. Công trình được khởi công năm 1977, sau ngày đất nước thống nhất không lâu. Hàng vạn người dân, cán bộ, kỹ sư, công nhân đã góp sức trong nhiều năm để biến một vùng đồi núi thành lòng hồ rộng lớn. Theo tư liệu được công bố, công trình đã huy động gần 20 triệu ngày công lao động.

Nhìn lại hôm nay, con số ấy không đơn thuần là một thống kê. Đằng sau đó là mồ hôi của những người từng gánh đất, đào đá, mở đường, dựng đập trong điều kiện máy móc còn thiếu thốn. Có những người đã gửi vào công trình những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ.

Năm 1986, hồ Phú Ninh hoàn thành và đưa vào sử dụng. Thời điểm ấy, đây từng là một trong những công trình thủy lợi lớn nhất cả nước. Hồ có dung tích khoảng 344 triệu m³, diện tích mặt nước khoảng 3.433ha. Hệ thống đầu mối gồm đập chính, các đập phụ, tràn xả lũ, cống lấy nước và nhà máy thủy điện; hệ thống kênh tưới kéo dài hàng trăm kilômét, đưa nước về những vùng sản xuất rộng lớn. Đó thực sự là một kỳ tích của một thời.

1789863033101-1859221940040222142-7628181778688812207-ae34ac4b52b99d53d367385b7e959152-1789863420.jpg
Cảnh quan lãng mạn trên bờ hồ

Từ dòng nước đến những mùa vàng xứ Quảng

Nếu nhìn Phú Ninh chỉ như một hồ nước khổng lồ giữa núi rừng thì chưa đủ. Giá trị lớn nhất của công trình nằm ở dòng nước đã vượt qua những con đập, theo hệ thống kênh mương về đồng ruộng, làm thay đổi cuộc sống của hàng vạn hộ dân.

Trước khi có hệ thống thủy lợi Phú Ninh, sản xuất lúa ở Quảng Nam chủ yếu phụ thuộc vào nước trời. Sau khi công trình đi vào vận hành, người dân có điều kiện chủ động nguồn nước, mở rộng diện tích gieo trồng, tăng vụ và nâng năng suất. Theo Báo Đà Nẵng, từ chỗ sản xuất lúa chủ yếu dựa vào nước trời với năng suất khoảng 2–2,5 tạ/ha/năm sau giải phóng, đến năm 1985, sản xuất lương thực của tỉnh đã cơ bản ổn định, có tích trữ và bắt đầu cung cấp cho địa phương khác. Đó là sự thay đổi mà những con số khó có thể diễn tả hết.

Bởi với người nông dân, một dòng kênh có nước không chỉ đồng nghĩa với một vụ mùa. Nó có nghĩa là bớt đi nỗi lo hạn hán, có thêm cơ hội tăng vụ, có thêm thu nhập, có điều kiện sửa sang nhà cửa và chăm lo việc học hành của con cái.

Theo số liệu được Báo Đà Nẵng dẫn lại, đến năm 2024, sản lượng lương thực của Quảng Nam đạt khoảng 543.960 tấn, trong khi năm 1976 chỉ khoảng 21.000 tấn. Hệ thống tưới tiêu Phú Ninh hiện phục vụ tưới cho gần 50.000ha lúa và hoa màu ở nhiều địa phương. Dòng nước vì thế đã trở thành dòng chảy sinh kế.

Một “biển xanh” giữa miền Trung 

Từ trên cao nhìn xuống, mặt hồ rộng mênh mang giữa màu xanh của núi rừng. Những đảo lớn nhỏ nhấp nhô trên mặt nước, những cánh rừng phòng hộ bao quanh tạo nên một không gian sinh thái đặc biệt. Một số tài liệu cho biết khu vực lòng hồ có khoảng 30 đảo lớn nhỏ và vùng rừng phòng hộ rộng hơn 15.700ha.

Bởi vậy, qua năm tháng, Phú Ninh dần được nhìn nhận không chỉ là công trình thủy lợi mà còn là một không gian sinh thái, cảnh quan và du lịch. Có những buổi sớm, mặt hồ phẳng như gương. Núi rừng còn bảng lảng trong sương. Một chiếc thuyền chậm rãi rẽ nước, phía xa là những hòn đảo xanh. Những người từng đi qua nơi đây nhiều năm trước, khi trở lại, đôi khi không khỏi ngỡ ngàng trước sự đổi thay của cảnh vật.

Dưới mặt nước là một phần lịch sử của vùng đất. Trên mặt nước là một hệ sinh thái mới được hình thành. Ven hồ là những câu chuyện về làng quê, về những con người đã nhường đất, chuyển nhà để phục vụ công trình. Và trong ký ức của nhiều thế hệ, Phú Ninh vẫn gắn với những năm tháng đất nước bước vào thời kỳ khôi phục và xây dựng sau chiến tranh.

Hồ Nghinh – người đặt nền móng cho hồ Phú Ninh

Nhắc đến hồ Phú Ninh, không thể không nhắc tới ông Hồ Nghinh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, người được nhiều tư liệu lịch sử ghi nhận có vai trò đặc biệt trong việc khởi xướng và thúc đẩy xây dựng công trình đại thủy nông này.

Sau ngày đất nước thống nhất, trước tình trạng đồng ruộng thiếu nước, sản xuất bấp bênh, ông Hồ Nghinh xác định thủy lợi phải được đặt ở vị trí then chốt để khôi phục nông nghiệp và ổn định đời sống nhân dân. Ông kiên trì thuyết phục các cơ quan Trung ương cho phép Quảng Nam - Đà Nẵng xây dựng hồ Phú Ninh trong điều kiện nguồn vốn còn rất khó khăn.

Ngày 29/3/1977, công trình chính thức khởi công. Đây là quyết định thể hiện tầm nhìn và sự quyết đoán của người đứng đầu tỉnh lúc bấy giờ. Theo tư liệu của Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng, ông Hồ Nghinh cùng Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cơ quan liên quan vừa thiết kế, vừa thi công, huy động sức người, sức của trong toàn tỉnh để thực hiện công trình.

Điều ông hướng tới không chỉ là một hồ chứa nước, mà là đưa nước về đồng ruộng, tạo điều kiện để người dân có đất, có nước và có sinh kế. Vì vậy, Phú Ninh trở thành một trong những dấu ấn lớn nhất trong sự nghiệp của ông Hồ Nghinh và là biểu tượng của tư duy lấy đời sống nhân dân làm điểm xuất phát của quyết sách phát triển.

Điều đáng nhớ nhất về Phú Ninh có lẽ không phải là những con số về dung tích hay chiều dài kênh mương, mà là câu chuyện con người đứng phía sau công trình. Những người tham gia xây dựng ngày ấy có thể đã già. Những người thanh niên từng đào đất, vận chuyển vật liệu, mở đường giờ nhiều người đã trở thành ông, bà. Một số người có thể không còn nữa. Nhưng công trình mà họ góp sức xây dựng vẫn còn đó.

Mỗi khi nước Phú Ninh về đồng, mỗi mùa lúa chín trên những cánh đồng Quảng Nam, dấu ấn của thế hệ ấy lại hiện diện theo một cách rất bình dị. Có thể nói, Phú Ninh là ký ức vật chất của một thời mà cả xã hội cùng chung sức làm những công trình lớn bằng nguồn lực còn rất hạn chế. Chính vì vậy, giá trị của hồ không chỉ nằm ở hiệu quả kinh tế mà còn ở giá trị lịch sử, xã hội và tinh thần.

Ngày nay, hồ vẫn đảm nhận nhiều chức năng: tưới tiêu, cấp nước dân sinh và công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, phát điện, góp phần cải thiện môi trường và phát triển du lịch sinh thái. Hồ có dung tích toàn bộ khoảng 344 triệu m³, trong đó dung tích hữu ích khoảng 273,7 triệu m³. Đáng chú ý, trong mùa mưa, hồ còn có vai trò điều tiết, góp phần giảm tác động của lũ đối với vùng hạ du. Hệ thống công trình vì thế tiếp tục mang một ý nghĩa lớn trong bối cảnh thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu ngày càng đặt ra nhiều thách thức.

1789862983776-1859221940040222142-7628181778688812207-279380d399d4c0d000e52db80b19ea53-1789863503.jpg
Nơi thu hút du khách đến đây thư giãn

Phú Ninh hôm nay và ký ức ngày xanh

Sau những thay đổi về địa giới hành chính, xã Phú Ninh hiện là đơn vị hành chính thuộc thành phố Đà Nẵng, được hình thành trên cơ sở nhập các xã Tam Dân, Tam Đại và Tam Lãnh. Điều đó mở ra một không gian phát triển mới cho khu vực hồ, nhất là về kết nối hạ tầng, du lịch sinh thái và khai thác các giá trị cảnh quan theo hướng bền vững. Nhưng trong câu chuyện phát triển ấy, điều cần giữ lại không chỉ là màu xanh của mặt nước. Đó còn là ký ức về một thời.

Một thời mà những người dân sau chiến tranh đã cùng nhau làm nên một công trình lớn. Một thời mà hàng triệu ngày công được đổi bằng những mùa vàng. Một thời mà dòng nước được xem như biểu tượng của khát vọng khai phá và dựng xây quê hương.

Gần nửa thế kỷ đã đi qua. Phú Ninh không còn đứng ngoài dòng chảy của thời gian. Hồ hôm nay phải đối mặt với những yêu cầu mới về an toàn nguồn nước, bảo vệ rừng, bảo vệ hệ sinh thái, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Song, giữa nhịp sống đang ngày càng hiện đại, đứng bên hồ vào một buổi chiều lặng gió, nhìn mặt nước trải dài đến tận chân núi, người ta vẫn có thể cảm nhận được bóng dáng của một thời đã xa.

Phú Ninh vì thế không chỉ là một hồ nước.

Đó là một công trình của ký ức, một chứng nhân của quá trình hồi sinh sau chiến tranh và là dòng nước đã góp phần nuôi dưỡng sự trù phú của xứ Quảng. Và dù thời gian có làm thay đổi địa danh, địa giới hay diện mạo quê hương, dấu ấn của những người đã đặt nền móng cho công trình ấy vẫn còn nằm lại trong từng dòng nước Phú Ninh hôm nay./.

Đăng ký đặt báo