
Ưu đãi đầu tư, giảm chi phí để mở rộng không gian phát triển
Ngày 26/10, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội nghị tham vấn dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam trước khi hoàn thiện hồ sơ trình Quốc hội xem xét. Các đề xuất tập trung xử lý những hạn chế về vốn, hạ tầng, nhân lực, thị thực và điều kiện kinh doanh, đồng thời tạo dư địa cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng giá trị từ mỗi lượt khách.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh việc xây dựng Nghị quyết nhằm cụ thể hóa chủ trương đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tháo gỡ những rào cản thể chế và huy động hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội. Theo Bộ trưởng, các chính sách cần xuất phát từ những khó khăn thực tế, có tính khả thi và đủ điều kiện triển khai ngay sau khi được thông qua.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho rằng, dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, du lịch Việt Nam vẫn cần những bước chuyển mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Việc thu hút đầu tư phải đi cùng phát triển sản phẩm có sức hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của khách và cải thiện năng suất lao động, qua đó tạo thêm việc làm, thu nhập cho người dân.
Theo ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, dự thảo gồm 12 điều, tập trung vào các chính sách có trọng tâm tại những trung tâm du lịch lớn, khu du lịch quốc gia, địa bàn phát triển du lịch cộng đồng và vùng khó khăn. Các ưu đãi dự kiến gắn với điều kiện thụ hưởng, kết quả thực hiện và cơ chế giám sát. Quá trình tham vấn được triển khai theo 7 nhóm chính sách với 21 vấn đề trọng tâm.
Một trong những nội dung đáng chú ý là phân loại dự án du lịch theo quy mô và mức độ đóng góp để áp dụng chính sách ưu đãi tương ứng. Ba nhóm được đề xuất gồm dự án du lịch chất lượng cao, dự án du lịch động lực và dự án du lịch động lực mang tính chiến lược, với tổng vốn đầu tư tối thiểu lần lượt là 3.000 tỷ đồng, 10.000 tỷ đồng và 30.000 tỷ đồng.
Các dự án phải dành một phần vốn nhất định cho những hạng mục du lịch, đồng thời đáp ứng yêu cầu về lao động thường xuyên. Theo phương án tham vấn, mức vốn đầu tư tối thiểu cho các hạng mục du lịch tương ứng là 1.000 tỷ đồng, 2.000 tỷ đồng và 5.000 tỷ đồng; số lao động thường xuyên tối thiểu lần lượt là 1.000, 1.500 và 2.000 người. Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, các ngưỡng vốn và lao động dự kiến giảm còn một nửa.
Tùy theo từng nhóm, nhà đầu tư có thể được hỗ trợ phát triển hạ tầng, tiếp cận nhà và đất công, xúc tiến thị trường hoặc hưởng ưu đãi về nghĩa vụ tài chính. Trong đó, dự án du lịch động lực được đề xuất áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 10 năm và ưu đãi tiền thuê đất. Với dự án mang tính chiến lược, thời hạn hoạt động có thể lên tới 70 năm, đi kèm chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
Tuy nhiên, cơ chế ưu đãi không áp dụng cho các dự án casino, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược, sân golf và dự án có hợp phần mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu tài sản trên đất theo nội dung dự thảo.
Để giảm áp lực chi phí vận hành, cơ quan soạn thảo còn đề xuất giảm tối đa 30% tiền thuê đất hằng năm đối với phần diện tích cảnh quan, cây xanh, mặt nước và không gian chung không trực tiếp kinh doanh tại khách sạn thành phố, khách sạn nghỉ dưỡng từ 4 sao trở lên, đáp ứng điều kiện mật độ xây dựng gộp dưới 25%. Một phương án khác là áp dụng giá điện sản xuất đối với cơ sở lưu trú du lịch từ tháng 1/2027, thay cho giá điện kinh doanh.
Dự thảo cũng hướng đến tăng khả năng kết nối điểm đến và mở rộng thị trường. Các địa phương được đề xuất chủ động xây dựng chính sách hỗ trợ mở đường bay mới, phát triển nguồn khách và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm OCOP thông qua hoạt động du lịch. Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng đề nghị những chính sách này cần gắn với kết quả cụ thể, có thể đo lường và đánh giá hiệu quả, đồng thời bảo đảm nguồn cung sản phẩm địa phương ổn định, đáp ứng yêu cầu về chất lượng.
Bên cạnh ưu đãi đầu tư, cơ quan soạn thảo nghiên cứu cơ chế bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất và tín dụng ưu đãi xanh cho doanh nghiệp du lịch. Nguồn lực ngân sách cũng được định hướng dành cho hạ tầng thiết yếu, kết nối các trung tâm du lịch trọng điểm và mở rộng phủ sóng 5G tại 100% khu du lịch quốc gia. Các địa phương có tiềm năng phát triển lớn, sở hữu di sản được UNESCO công nhận hoặc di tích quốc gia đặc biệt được đề xuất ưu tiên đầu tư hạ tầng, với thời hạn áp dụng chính sách đến năm 2030.
Một cơ chế khác là cho phép sử dụng nguồn thu dịch vụ từ khai thác tài nguyên, tài sản công gắn với khu du lịch để tái đầu tư tại chỗ, phục vụ bảo tồn, duy tu, nâng cấp điểm đến và phát triển sản phẩm mới.
Mở đường cho kinh tế đêm, thu hút nhân lực và phát triển du lịch cộng đồng
Ngoài việc tạo thuận lợi cho các dự án quy mô lớn, dự thảo dành sự quan tâm đáng kể đến những mô hình kinh doanh mới có khả năng gia tăng trải nghiệm và mức chi tiêu của du khách. Các lĩnh vực được khuyến khích gồm kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, nền tảng du lịch số, du lịch xanh, du lịch tuần hoàn, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch du thuyền và các tổ hợp văn hóa, thể thao, giải trí.

Theo đề xuất, những mô hình đáp ứng điều kiện có thể được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm. Một số tổ hợp nghệ thuật, lễ hội và giải trí được nghiên cứu thí điểm hoạt động liên tục 24/7, đi kèm thủ tục hành chính rút gọn và cơ chế cấp phép một lần. Chính phủ cũng có thể lựa chọn một số địa bàn để thử nghiệm có kiểm soát các mô hình kinh doanh mới trong thời gian 3-5 năm, đánh giá kết quả trước khi xem xét nhân rộng.
Để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới sản phẩm, dự thảo đưa ra phương án cho phép tính chi phí nghiên cứu và phát triển bằng 300% chi phí thực tế khi xác định thu nhập chịu thuế. Đồng thời, Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP HCM và Phú Quốc được định hướng thu hút các trung tâm mua sắm hàng hiệu giảm giá (outlet), cửa hàng miễn thuế, hướng tới mục tiêu mỗi địa bàn có ít nhất một mô hình đi vào hoạt động vào năm 2028.
Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng lưu ý, các cơ chế dành cho mô hình mới cần xác định rõ những vướng mắc về thủ tục và điều kiện kinh doanh, đồng thời làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường, trật tự xã hội và quyền lợi cộng đồng. Việc rút gọn thủ tục không đồng nghĩa với giảm yêu cầu quản lý đối với các hoạt động có khả năng tác động đến đời sống dân cư.

Về nhân lực, Bộ đề xuất giảm 50% thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với tiền lương, tiền công đủ điều kiện của chuyên gia, nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ tối đa 30% kinh phí đào tạo và bố trí quỹ đất phát triển nhà ở cho người lao động du lịch. Các tiêu chí thụ hưởng cần được xây dựng sát với nhu cầu tuyển dụng, kỹ năng còn thiếu và những vị trí có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ.
Chính sách thị thực cũng được nghiên cứu theo hướng tăng sức hấp dẫn đối với khách từ thị trường trọng điểm, khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, khách hội nghị, khách chăm sóc sức khỏe và người làm việc từ xa. Các nội dung về đối tượng áp dụng, thời hạn thị thực, số lần nhập cảnh và thủ tục cần được cân nhắc trên cơ sở vừa tạo thuận lợi cho du khách, vừa bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và người dân tham gia du lịch cộng đồng, dự thảo định hướng hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi số, quảng bá và kết nối thị trường, đặc biệt tại miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và nông thôn. Mục tiêu là giúp cộng đồng không chỉ tham gia cung ứng dịch vụ mà còn nâng cao khả năng giữ chân du khách, phát triển sinh kế và hưởng lợi lâu dài từ hoạt động du lịch.
Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết sau khi Nghị quyết được ban hành, Bộ dự kiến phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại nghiên cứu chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp du lịch. Chính sách cần tạo cơ hội tiếp cận cho cả doanh nghiệp đang hoạt động, đơn vị quy mô nhỏ và cộng đồng địa phương, thay vì chỉ tập trung thu hút các nhà đầu tư lớn. Thủ tục hỗ trợ cũng cần minh bạch, đơn giản, hạn chế việc doanh nghiệp phải xin xác nhận qua nhiều cơ quan.
Theo hồ sơ xây dựng Nghị quyết, Việt Nam xếp thứ 97 trong 110 nền kinh tế về mức độ ưu tiên dành cho du lịch, thứ 106 về tác động kinh tế - xã hội và thứ 74 về hạ tầng, dịch vụ du lịch. Trong khi phần lớn doanh nghiệp hoạt động ở quy mô vừa và nhỏ, khả năng tiếp cận vốn ưu đãi còn hạn chế, nhiều điểm đến vẫn thiếu hạ tầng và nguồn lực để phát triển sản phẩm có giá trị cao.
Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đề nghị các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến cụ thể, tập trung vào những vướng mắc cần tháo gỡ. Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến tại hội nghị ngày 26/10, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ hoàn thiện dự thảo để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2, hướng tới xây dựng cơ chế đủ sức huy động nguồn lực xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển bền vững.