Bảo hiểm thất nghiệp cần chuyển mạnh từ hỗ trợ sang chủ động tạo việc làm

Hơn 816.000 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong năm 2025, nhưng chỉ hơn 22.000 người tham gia học nghề. Theo ông Lê Quang Trung, nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), khoảng cách này cho thấy chính sách bảo hiểm thất nghiệp cần chuyển mạnh từ hỗ trợ tài chính sang chủ động giúp người lao động trở lại thị trường lao động.

Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là khoản trợ cấp

PV: Thưa ông, trong bối cảnh thị trường lao động có nhiều biến động, vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đang được nhìn nhận như thế nào?

Ông Lê Quang Trung: Bảo hiểm thất nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt khi thị trường lao động chịu tác động đồng thời từ quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, chuyển đổi số, tự động hóa và những thay đổi trong nhu cầu sử dụng lao động.

trung-1787650704.jpg
Ông Lê Quang Trung, nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm (Bộ Nội vụ).

Việt Nam là một trong những quốc gia triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp khá sớm trong khu vực ASEAN. Sau 16 năm thực hiện, chính sách này đã trở thành một trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội.

Riêng năm 2025, có hơn 816.000 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trong 5 tháng đầu năm 2026, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt hơn 17,37 triệu người, tăng khoảng 175.000 người so với cùng kỳ; hơn 245.000 người được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Đặc biệt, trong giai đoạn Covid-19, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã hỗ trợ trên 30.000 tỷ đồng cho người lao động và doanh nghiệp. Điều này cho thấy bảo hiểm thất nghiệp không chỉ có ý nghĩa với từng người lao động mà còn góp phần ổn định thị trường lao động và nền kinh tế khi xảy ra cú sốc.

Tuy nhiên, tôi cho rằng cần nhìn nhận bảo hiểm thất nghiệp theo đúng tinh thần của một chính sách an sinh chủ động. Mục tiêu cuối cùng không phải là để người lao động hưởng trợ cấp trong thời gian dài, mà là giúp họ sớm quay trở lại thị trường lao động.

PV: Nhưng thực tế cho thấy số người tham gia học nghề sau khi mất việc còn rất thấp. Theo ông, đâu là nguyên nhân?

Ông Lê Quang Trung: Đây là vấn đề cần được quan tâm. Năm 2025, trong số hơn 816.000 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, chỉ có hơn 22.000 người tham gia học nghề, tương đương khoảng 2,7%. Con số này cho thấy chức năng hỗ trợ đào tạo nghề của chính sách bảo hiểm thất nghiệp chưa được khai thác tương xứng.

Nguyên nhân đến từ nhiều phía. Trước hết là nhận thức của người lao động. Không ít người khi mất việc có tâm lý muốn tìm ngay một công việc để có thu nhập, thay vì dành thời gian học thêm nghề hoặc nâng cao kỹ năng.

Đặc biệt, với những lao động gặp khó khăn về tài chính, việc nhận trợ cấp và nhanh chóng tìm một công việc có thu nhập ngay như giao hàng, lái xe công nghệ, bán hàng hoặc lao động phổ thông thường được ưu tiên hơn việc tham gia một khóa đào tạo.

Một nguyên nhân khác là người lao động chưa thực sự tin rằng đào tạo nghề sẽ giúp họ tìm được việc làm tốt hơn. Nếu học xong nhưng cơ hội việc làm, thu nhập và điều kiện làm việc không được cải thiện rõ ràng, sức hấp dẫn của chính sách hỗ trợ học nghề sẽ không cao.

Phải lấy việc làm làm trung tâm của chính sách

PV: Không chỉ đào tạo nghề, công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp cũng chưa đạt kỳ vọng. Ông nhìn nhận vấn đề này ra sao?

Ông Lê Quang Trung: Hiện nay, hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm và Sàn giao dịch việc làm quốc gia vẫn là những kênh thông tin tuyển dụng chính thống, có độ tin cậy cao. Thông tin tuyển dụng được kiểm chứng từ doanh nghiệp, người lao động có thể tiếp cận tương đối thuận lợi. Nhưng vấn đề là nhiều người lao động chưa biết hoặc chưa có thói quen sử dụng các kênh này.

Thực tế tại một số trung tâm cho thấy khu vực tiếp nhận hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp thường đông người, trong khi khu vực tư vấn, giới thiệu việc làm lại ít người quan tâm. Nhiều lao động chỉ coi trung tâm dịch vụ việc làm là nơi thực hiện thủ tục để nhận trợ cấp, còn việc tìm việc được thực hiện trên các nền tảng trực tuyến khác.

Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ việc làm. Không thể chỉ cung cấp một danh sách vị trí tuyển dụng rồi chờ người lao động lựa chọn. Dịch vụ việc làm phải được cá nhân hóa hơn, dựa trên trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng, nhu cầu và khả năng thích ứng của từng người.

Một lao động từng làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, chắc chắn sẽ có nhu cầu rất khác so với một lao động phổ thông. Nếu cả hai cùng được giới thiệu những vị trí tương tự nhau thì hiệu quả kết nối cung - cầu sẽ không cao.

PV: Vậy theo ông, cần thay đổi chính sách bảo hiểm thất nghiệp như thế nào để người lao động thực sự được hỗ trợ quay lại thị trường lao động?

Ông Lê Quang Trung: Tôi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng lấy việc làm làm trung tâm.

Thứ nhất, cần tăng cường các hoạt động tư vấn, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực để người lao động được định hướng nghề nghiệp phù hợp ngay từ khi bắt đầu làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Thứ hai, phải gắn đào tạo nghề với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp. Không nên đào tạo theo những ngành nghề mà cơ sở đào tạo đang có sẵn, mà cần căn cứ vào nhu cầu của thị trường lao động và khả năng có việc làm sau đào tạo.

Thứ ba, cần tăng cường sự phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và trung tâm dịch vụ việc làm. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình xác định nhu cầu kỹ năng, xây dựng chương trình đào tạo và tuyển dụng sau đào tạo.

Thứ tư, trong bối cảnh chuyển đổi số, cần xây dựng hệ sinh thái số tích hợp. Người lao động chỉ cần thực hiện một lần đăng ký nhưng có thể đồng thời tiếp cận thông tin về trợ cấp thất nghiệp, việc làm, đào tạo nghề và thị trường lao động.

PV: Có ý kiến cho rằng bảo hiểm thất nghiệp cần hỗ trợ doanh nghiệp giữ chân người lao động thay vì chỉ hỗ trợ sau khi người lao động đã mất việc. Ông đánh giá thế nào?

Ông Lê Quang Trung: Đây là hướng cần được nghiên cứu. Nếu chính sách có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong những thời điểm khó khăn để duy trì việc làm, đào tạo lại hoặc nâng cao kỹ năng cho người lao động thì sẽ tốt hơn rất nhiều so với việc để người lao động mất việc rồi mới thực hiện các chính sách hỗ trợ.

Trong quá trình chuyển đổi số và tái cơ cấu sản xuất, nhiều vị trí việc làm có thể mất đi nhưng đồng thời cũng xuất hiện những công việc mới. Vì vậy, thay vì chỉ phản ứng khi thất nghiệp xảy ra, chính sách cần có khả năng phòng ngừa và hỗ trợ chuyển đổi.

Đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng ngay trong doanh nghiệp có thể giúp người lao động thích ứng với công nghệ mới, đồng thời giúp doanh nghiệp giữ được nguồn nhân lực đã có kinh nghiệm.

PV: Như vậy, theo ông, đâu là mục tiêu quan trọng nhất khi hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn hiện nay?

Ông Lê Quang Trung: Mục tiêu cốt lõi phải là rút ngắn thời gian thất nghiệp và giúp người lao động tìm được việc làm phù hợp, bền vững.

Trợ cấp thất nghiệp vẫn rất cần thiết vì đó là nguồn hỗ trợ tài chính giúp người lao động vượt qua giai đoạn mất việc. Nhưng nếu chính sách chỉ dừng ở việc chi trả trợ cấp thì chưa phát huy hết vai trò.

trung2-1787650438.jpg
Kết nối việc làm cho lao động thất nghiệp.

Trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh, người lao động cần được hỗ trợ cả về tài chính, thông tin, kỹ năng và cơ hội việc làm. Các trung tâm dịch vụ việc làm phải trở thành cầu nối thực chất giữa người lao động và doanh nghiệp.

Bảo hiểm thất nghiệp vì thế cần được nhìn nhận như một chính sách đầu tư cho khả năng thích ứng của người lao động. Khi người lao động nhanh chóng có việc làm mới, doanh nghiệp tìm được nhân lực phù hợp và thời gian thất nghiệp được rút ngắn, chính sách mới thực sự phát huy hiệu quả.

Nếu làm tốt, bảo hiểm thất nghiệp sẽ không chỉ là khoản hỗ trợ khi người lao động mất việc mà còn trở thành một công cụ giúp họ nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề nghiệp và chủ động thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động./.

Đăng ký đặt báo