Từ yêu cầu thực tiễn đến lựa chọn giống lúa mới
Quỹ đất nông nghiệp ngày càng chịu sức ép từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, trong khi sản xuất lúa vẫn phải đối mặt với những bất lợi về thời tiết, sâu bệnh và chi phí vật tư đầu vào. Trong bối cảnh đó, nâng cao hiệu quả sản xuất không thể chỉ dựa vào việc tăng sản lượng mà cần bắt đầu từ lựa chọn giống phù hợp, tổ chức canh tác hợp lý và từng bước nâng cao giá trị hạt gạo.

Tại Bắc Ninh, mô hình sản xuất giống lúa thuần chất lượng T58 trong vụ mùa năm 2026 được triển khai nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống trong điều kiện canh tác thực tế. Mô hình do Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh phối hợp với Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang và các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công tại địa phương thực hiện.
Bốn điểm triển khai được bố trí tại tổ dân phố Công Cối, phường Nhân Hòa; thôn Cao Xá, xã Tân Yên; tổ dân phố Nghĩa Xá, phường Trạm Lộ và tổ dân phố Tiến Dũng, phường Cảnh Thụy. Mỗi điểm có diện tích 0,5 ha, tổng quy mô mô hình là 2 ha. Các hộ tham gia được hỗ trợ 100% giá giống và 50% lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo báo cáo. Việc tập trung gieo cấy trên những khu ruộng tương đối liền vùng tạo thuận lợi cho cán bộ chuyên môn theo dõi đồng ruộng, hướng dẫn chăm sóc và kiểm soát sinh vật gây hại.
Điểm đáng chú ý là trong quá trình theo dõi, người dân tại các điểm triển khai đã chủ động mở rộng diện tích gieo cấy sau khi quan sát khả năng sinh trưởng của giống lúa. Đây là tín hiệu tích cực về mức độ đón nhận của nông dân đối với giống mới. Tuy nhiên, diện tích mở rộng cụ thể cần được thống kê, xác nhận đầy đủ để có cơ sở đánh giá chính xác sức lan tỏa của mô hình.
Theo báo cáo, giống lúa thuần T58 được công nhận lưu hành theo Quyết định số 302/QĐ-TT-CLT tháng 6/2024, mã số lưu hành CNLH.2024.62. Đây là giống cảm ôn, có thể gieo cấy hai vụ trong năm, với thời gian sinh trưởng tại miền Bắc khoảng 120–130 ngày trong vụ xuân và 104–112 ngày trong vụ mùa. Tại các điểm triển khai ở Bắc Ninh, thời gian sinh trưởng của T58 được ghi nhận trong khoảng 105–109 ngày.
Thời gian sinh trưởng tương đối ngắn là lợi thế trong tổ chức mùa vụ, nhất là tại những vùng có nhu cầu thu hoạch lúa sớm để giải phóng đất, chuẩn bị sản xuất cây trồng vụ đông. Khi hiệu quả canh tác ngày càng phụ thuộc vào khả năng bố trí lịch thời vụ hợp lý, rút ngắn thời gian chiếm đất có thể giúp nông dân chủ động hơn trong sản xuất, tận dụng tốt hơn điều kiện thời tiết và nguồn lực sẵn có.
Thân cứng, khả năng chống đổ tốt và năng suất dự kiến vượt giống đối chứng
Qua theo dõi tại các điểm mô hình, cây lúa T58 có chiều cao trung bình khoảng 96–106 cm, thân cứng, dạng hình gọn, khả năng đẻ nhánh khá và lá đòng đứng. So với giống Bắc thơm 7 được sử dụng làm đối chứng, T58 được đánh giá có bộ rễ phát triển mạnh hơn, khả năng giữ cây đứng tốt hơn trong giai đoạn từ trỗ đến chín. Đây là những đặc điểm có ý nghĩa đối với sản xuất vụ mùa, thời điểm cây lúa thường chịu tác động của mưa lớn, gió mạnh và nguy cơ đổ ngã.

Thực tế vụ mùa năm 2026 cho thấy điều kiện thời tiết không hoàn toàn thuận lợi. Từ ngày 20 đến 24/8, mưa lớn trên diện rộng kết hợp ảnh hưởng của bão số 4 gây ngập úng cục bộ tại một số khu vực, tác động đến sinh trưởng của cây lúa và làm tăng nguy cơ phát sinh sâu bệnh. Đến giai đoạn trỗ, mưa rào, dông và độ ẩm cao tiếp tục tạo điều kiện cho một số bệnh hại như đen lép hạt, đốm sọc vi khuẩn và bạc lá vi khuẩn xuất hiện.
Trước diễn biến đó, Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh phối hợp với doanh nghiệp và các đơn vị chuyên môn tại địa phương kiểm tra đồng ruộng, hướng dẫn người dân theo dõi mật độ sinh vật gây hại và phòng trừ đúng thời điểm. Báo cáo ghi nhận các ruộng trong mô hình bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại nhẹ, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn ở giai đoạn cuối đẻ nhánh đến làm đòng. Cuối vụ, mật độ rầy tăng trên một số diện tích, song việc kiểm tra và xử lý kịp thời giúp cây lúa duy trì bộ lá đòng xanh, hạn chế ảnh hưởng đến quá trình tích lũy dinh dưỡng vào hạt.
Trong quá trình chăm sóc, các hộ sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh kết hợp phân NPK chuyên dùng theo hướng dẫn kỹ thuật. Cán bộ chuyên môn thường xuyên kiểm tra, theo dõi sinh trưởng và hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh. Cách tổ chức này góp phần kiểm soát các yếu tố đầu vào, đồng thời tạo điều kiện đánh giá giống trong quy trình chăm sóc tương đối thống nhất.
Ông Nguyễn Ngọc Ninh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh, cho biết: “Việc đưa giống lúa mới vào mô hình trình diễn nhằm đánh giá một cách thực chất khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh, năng suất và hiệu quả kinh tế trong điều kiện sản xuất tại địa phương. Qua theo dõi bước đầu, T58 cho thấy một số đặc điểm đáng chú ý như thân cứng, dạng hình gọn, thời gian sinh trưởng phù hợp với bố trí thời vụ. Tuy nhiên, chúng tôi xác định việc đánh giá giống phải dựa trên kết quả thực tế qua các vụ sản xuất, không chỉ nhìn vào một vài chỉ tiêu riêng lẻ. Năng suất thu hoạch, chất lượng gạo, chi phí đầu tư và khả năng thích nghi ở từng vùng canh tác sẽ là những căn cứ quan trọng để xem xét khả năng mở rộng trong thời gian tới”.
Những đánh giá bước đầu về đặc điểm nông học của T58 được phản ánh trong các chỉ tiêu năng suất dự kiến. Theo bảng số liệu của báo cáo mô hình, năng suất T58 đạt ước tính 72,5 tạ/ha tại phường Cảnh Thụy, 72,3 tạ/ha tại xã Tân Yên, 71,5 tạ/ha tại phường Trạm Lộ và 70,7 tạ/ha tại phường Nhân Hòa. Trong khi đó, giống Bắc thơm 7 đối chứng đạt 58,97 tạ/ha.
Hiệu quả kinh tế là căn cứ quan trọng để nông dân lựa chọn
Không chỉ được đánh giá qua đặc điểm sinh trưởng và năng suất, giống lúa mới cần chứng minh được khả năng mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng. Với nông dân, một giống lúa có năng suất cao nhưng chi phí đầu tư lớn, giá bán không ổn định hoặc khó tiêu thụ chưa chắc đã đem lại hiệu quả bền vững.

Theo số liệu trong báo cáo, với diện tích quy đổi 1 ha, mô hình T58 có tổng chi phí dự kiến 36,325 triệu đồng, doanh thu 57,4 triệu đồng và lợi nhuận 21,075 triệu đồng. Trong khi đó, giống Bắc thơm 7 có tổng chi phí 36,15 triệu đồng, doanh thu 53,073 triệu đồng và lợi nhuận 16,923 triệu đồng. Như vậy, lợi nhuận dự kiến của T58 cao hơn khoảng 4,152 triệu đồng/ha so với giống đối chứng.
Chênh lệch này chủ yếu đến từ năng suất dự kiến cao hơn, trong khi chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các khoản công lao động được tính toán ở mức tương đương. Dù chi phí giống T58 cao hơn, phần đầu tư tăng thêm có khả năng được bù đắp bằng giá trị sản lượng thu được. Đây là tín hiệu tích cực, nhất là khi người sản xuất ngày càng phải tính toán chặt chẽ giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thực nhận.
Ở góc độ doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp, việc phát triển giống mới cũng đặt ra yêu cầu đồng hành với người sản xuất trong suốt quá trình canh tác, từ lựa chọn nguồn giống, hướng dẫn kỹ thuật đến phối hợp đánh giá kết quả mô hình.
Ông Đặng Văn Trung, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang, cho biết: “Đối với doanh nghiệp, triển khai mô hình giống lúa mới không chỉ là cung ứng sản phẩm mà còn là phối hợp với cơ quan khuyến nông và địa phương theo dõi quá trình sinh trưởng, đánh giá khả năng thích nghi và hiệu quả sản xuất. Kết quả bước đầu của T58 là tín hiệu đáng khích lệ, nhưng điều quan trọng là phải bảo đảm chất lượng giống, hướng dẫn người dân áp dụng đúng quy trình kỹ thuật và tiếp tục theo dõi qua các vụ. Khi có đủ cơ sở thực tiễn, doanh nghiệp sẽ có điều kiện phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu phương án tổ chức sản xuất, kết nối tiêu thụ, góp phần giảm rủi ro cho nông dân”.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là chất lượng thương phẩm. Theo báo cáo, gạo T58 có hạt dài, trong, cơm mềm, thơm và đậm vị. Đây là những đặc điểm có thể tạo lợi thế trên thị trường, nhưng để khẳng định giá trị sản phẩm cần có thêm đánh giá về chất lượng gạo sau xay xát, mức độ ổn định giữa các vùng trồng và phản hồi của người tiêu dùng.
Nhân rộng mô hình cần đi cùng đánh giá thực chất và kết nối thị trường
Từ kết quả bước đầu của vụ mùa năm 2026, T58 cho thấy khả năng sinh trưởng, phát triển tương đối tốt tại các điểm triển khai ở Bắc Ninh. Những đặc điểm như thân cứng, dạng hình gọn, khả năng chống đổ khá và thời gian sinh trưởng phù hợp là cơ sở để tiếp tục theo dõi, đánh giá giống trong các điều kiện sản xuất khác nhau.

Trên cơ sở đó, việc tuyên truyền kết quả mô hình, tổ chức cho nông dân tham quan đồng ruộng và trao đổi kinh nghiệm cần được duy trì. Các địa phương, hợp tác xã và tổ hợp tác có thể xem xét lựa chọn những vùng có điều kiện canh tác phù hợp để tiếp tục triển khai, đồng thời bảo đảm hướng dẫn kỹ thuật trong suốt quá trình sản xuất. Việc mở rộng diện tích nên dựa trên kết quả đã được kiểm chứng, tránh chạy theo những tín hiệu tích cực ban đầu khi chưa có đủ dữ liệu về hiệu quả thực tế.
Đối với doanh nghiệp cung ứng giống, yêu cầu không dừng ở việc bảo đảm nguồn giống đúng tiêu chuẩn mà còn cần phối hợp với địa phương và các tổ chức sản xuất trong quá trình theo dõi, đánh giá mô hình. Khi diện tích tăng lên, việc nghiên cứu, kết nối các đơn vị thu mua sẽ có ý nghĩa quan trọng, giúp nông dân chủ động hơn về đầu ra và hạn chế rủi ro do biến động giá cả.
Về phía cơ quan quản lý chuyên ngành, kết quả mô hình là cơ sở để tiếp tục đánh giá T58 tại các vùng sinh thái và điều kiện sản xuất khác nhau trước khi xem xét khả năng đưa giống vào cơ cấu giống lúa thuần năng suất, chất lượng cao của tỉnh trong những vụ tiếp theo. Quá trình đánh giá cần dựa trên số liệu thu hoạch thực tế, hiệu quả kinh tế sau hạch toán và chất lượng sản phẩm, thay vì chỉ căn cứ vào kết quả của một vụ sản xuất.
Trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp chịu nhiều sức ép, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đòi hỏi sự kết hợp giữa lựa chọn giống phù hợp, kiểm soát chi phí, tổ chức canh tác đồng bộ và kết nối thị trường. T58 đang cho thấy những triển vọng ban đầu tại Bắc Ninh, nhưng chặng đường từ mô hình trình diễn đến sản xuất trên diện rộng vẫn cần được kiểm chứng bằng những kết quả cụ thể trên đồng ruộng. Chỉ khi năng suất, chất lượng và đầu ra cùng được bảo đảm, giống lúa mới thực sự trở thành lựa chọn mang lại giá trị bền vững cho người trồng lúa.